TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN XÃ AN QUANG(1930 - 2015)
LỜI NÓI ĐẦU
An Quang là xã vùng cao nằm ở phía Đông Nam huyện miền núi An Lão, tỉnh Bình Định, là địa bàn sinh sống chủ yếu của đồng bào hai dân tộc H’rê và Bana. Qua các giai đoạn phát triển của lịch sử, cộng đồng các dân tộc An Quang luôn đoàn kết vượt qua mọi khó khăn để chế ngự thiên nhiên, ngăn chặn thiên tai và chống giặc ngoại xâm. Đặc biệt, từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân An Quang phát huy truyền thống yêu nước, kiên cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, góp phần vào thắng lợi chung của sự nghiệp bảo vệ quê hương, đất nước.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, trước những yêu cầu của tình hình mới, tháng 01 năm 1976, các xã An Cư, An Mỹ, An Hậu và An Nghĩa được sáp nhập thành đơn vị hành chính mới với tên gọi là xã An Quang. Dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy An Lão, Chi bộ rồi sau đó là Đảng bộ xã An Quang được thành lập; Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc địa phương có nhiều nỗ lực trong việc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, từng bước ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh.
Từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân xã An Quang vượt qua khó khăn, khai thác tối đa tiềm năng và thế mạnh của địa phương, tạo ra những chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Từ một xã nghèo của huyện miền núi, nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên, đời sống nhân dân các dân tộc còn nhiều thiếu thốn, đến nay xã An Quang đã có sự phát triển bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Thường vụ và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Định, Ban Thường vụ Huyện ủy huyện An Lão chỉ đạo tổ chức nghiên cứu, biên soạn cuốn sách “Truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã An Quang (1930 - 2015)” nhằm dựng lại những chặng đường vẻ vang của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương, rút ra những bài học kinh nghiệm, phục vụ cho công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển quê hương; đồng thời tăng cường giáo dục truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân An Quang cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Trên cơ sở các tư liệu lịch sử, những ý kiến đóng góp của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương qua các thời kỳ và các nhân chứng lịch sử... Ban Chấp hành Đảng bộ xã quyết định biên soạn cuốn sách “Truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã An Quang (1930 – 2015)” .
Ngoài lời nói đầu, kết luận, phụ lục; nội dung cuốn sách được kết cấu gồm 3 chương:
Chương I: Vùng đất, con người và phong trào đấu tranh của nhân dân An Quang đến năm 1945
Chương II: An Quang trong hai cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược (1945 - 1975)
Chương III: An Quang trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975 - 2015)
Mặc dù có nhiều cố gắng, song do hạn chế về nguồn tài liệu, văn bản lưu trữ,... cho nên công trình không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các đồng chí cán bộ, đảng viên, nhân dân trong xã và bạn đọc để bổ sung và hoàn chỉnh cuốn sách cho lần tái bản sau.
Ban Chấp hành Đảng bộ xã An Quang chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Tuyên giáo Huyện ủy An Lão, các cơ quan, ban ngành trong huyện An Lão, tỉnh Bình Định; các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của xã An Quang qua các thời kỳ; các nhân chứng lịch sử... đã đóng góp công sức, trí tuệ, tạo điều kiện thuận lợi để cuốn sách ra mắt bạn đọc.
BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ XÃ AN QUANG
Chương I
VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ PHONG TRÀO
ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN AN QUANG
ĐẾN NĂM 1945
- VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƯỜI XÃ AN QUANG
- Cư dân và quá trình hình thành làng xã
An Quang là một trong những xã miền núi của huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Qua các giai đoạn lịch sử, vùng đất An Quang trải qua nhiều lần biến đổi về địa giới hành chính. Từ thế kỷ XV trở về trước, địa bàn An Quang, huyện An Lão ngày nay thuộc vùng rừng núi phía Tây của Vương quốc Chăm-pa. Trong quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam, nhà Hậu Lê đã lập ra Thừa tuyên Quảng Nam. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông lập ra phủ Hoài Nhơn (thuộc Thừa Tuyên Quảng Nam), gồm 3 huyện Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn, xã An Quang thuộc khu vực phía Tây của huyện Bồng Sơn.
Từ năm 1570, phủ Hoài Nhơn thuộc quyền quản lý của các chúa Nguyễn. Năm 1602, Nguyễn Hoàng đổi tên phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn, năm 1651 chúa Nguyễn Phúc Tần đổi phủ Quy Nhơn thành phủ Quy Ninh và năm 1742, chúa Nguyễn Phúc Khoát lấy lại tên cũ là Quy Nhơn. Lúc bấy giờ vùng đất An Quang vẫn thuộc huyện Bồng Sơn;
Tuy nhiên tên gọi đơn vị hành chính cơ sở có sự thay đổi[1]. Thời các chúa Nguyễn, đa số làng của người H’rê, Bana ở An Quang ngày nay thuộc nguồn Trà Đinh (thủ sở đóng tại thôn Hưng Nhơn, xã An Tân, huyện An Lão ngày nay). Năm 1832, vua Minh Mạng thành lập tỉnh Bình Định, chia Tuy Viễn thành 2 huyện: Tuy Viễn và Tuy Phước thuộc phủ An Nhơn; Phù Ly thành hai huyện: Phù Mỹ và Phù Cát, cùng huyện cũ Bồng Sơn thuộc phủ Hoài Nhơn. Vùng đất An Quang thuộc nguồn Trà Bình (vốn là nguồn Trà Đinh thời chúa Nguyễn), huyện Bồng Sơn, phủ Hoài Nhơn.
Năm 1819, để ngăn ngừa sự chống đối lan rộng xuống đồng bằng của đồng bào các dân tộc miền núi, tả quân Lê Văn Duyệt cho đắp thêm đoạn lũy do Bùi Tá Hán xây dựng trước đây thành Trường lũy kéo dài từ Trà My (Quảng Nam) vào đến An Lão (Bình Định) gọi là Trường lũy Sơn phòng. Để quản lý Sơn phòng, ngoài hệ thống các đồn, sở, bảo có lực lượng đóng giữ, nhà Nguyễn đặt chức Tiễu phủ Sơn phòng sứ. Lúc đầu Tiễu phủ Sơn phòng sứ chỉ phụ trách Sơn phòng Quảng Ngãi, đến năm 1867, kiêm luôn cả Sơn phòng Bình Định, gọi là Nghĩa Định Sơn phòng.
Năm 1890, vùng đất An Lão tách ra khỏi Nghĩa Định Sơn phòng, trực thuộc châu Hoài Ân, phủ Hoài Nhơn cho
đến cuối thế kỷ XIX. Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp từng bước đưa lực lượng lên chiếm đất, lập đồn điền, cai trị trực tiếp đồng bào các dân tộc miền núi tỉnh Bình Định, chúng lập ra đồn An Lão để quản lý các làng về mặt hành chính, an ninh, thu thuế, sử dụng các chức lý trưởng, ngũ hương trực tiếp cai trị và bóc lột đồng bào. Năm 1906, vùng đất xã An Quang thuộc tổng Hoài Đức, huyện Hoài Ân.
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, tổng Hoài Đức đổi tên thành tổng Lê Giản thuộc huyện Hoài Nhơn. Năm 1946, theo chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ, hệ thống đơn vị hành chính từ cấp xã đến cấp huyện của nước ta có sự thay đổi, xóa cấp tổng và sáp nhập một số làng thành xã mới. Vùng đất An Quang nói riêng, An Lão nói chung thuộc quyền quản lý của huyện Hoài Ân. Tháng 4/1947, chính quyền cách mạng tỉnh Bình Định quyết định thành lập 4 huyện miền núi: Vân Canh, Vĩnh Thạnh, Kim Sơn và An Lão. Huyện An Lão ra đời trở thành một đơn vị hành chính độc lập như nhiều huyện khác trong tỉnh Bình Định, vùng đất An Quang ngày nay chính thức thuộc huyện An Lão.
Năm 1949, huyện Kim Sơn giải thể, các xã phía Nam được sáp nhập vào huyện Vĩnh Thạnh, còn các xã phía Bắc thì sáp nhập vào huyện An Lão. Để tăng cường xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, Huyện ủy An Lão cử nhiều cán bộ về các bản làng để vận động đồng bào tham gia thành lập chính quyền cách mạng ở xã, thôn. Căn cứ vào vị trí địa lý và mối liên hệ cư dân giữa các làng để tổ chức thành từng xã. Trong tình hình đó, các xã An Cư, An Mỹ, An Hậu và An Nghĩa lần lượt ra đời. Như vậy, đến năm 1954, trên địa bàn huyện miền núi An Lão có 18 xã[2] (An Toàn, An Sơn, An Nghĩa, An Hậu, An Cư, An Mỹ, An Phú, An Quý, An Bình, An Bửu, An Thạch, An Liên, An Hiệp, An Dân, An Ninh, An Lạc, An Thành và An Đồng).
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn chịu ách thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Tháng 3/1955, địa bàn huyện An Lão được bàn giao cho chính quyền Sài Gòn kiểm soát, chúng thành lập Nha Hành chính An Lão đóng tại thôn Xuân Phong, xã An Hòa ngày nay. Vùng đất An Quang (bao gồm An Cư, An Mỹ và An Hậu) lúc này trực thuộc Nha Hành chính An Lão. Tháng 5/1958, Nha Hành chính An Lão đổi thành quận An Lão.
Tháng 12/1964, lực lượng vũ trang Quân khu V phối hợp với quân và dân địa phương (tỉnh, huyện) mở chiến dịch An Lão giành thắng lợi, góp phần làm phá sản về cơ bản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ trên chiến trường Quân khu V. Phối hợp với quân và dân An Lão, một số xã của huyện Hoài Ân vùng lên giải phóng quê hương. Trước tình hình đó, chính quyền Sài Gòn cải tổ quận An Lão thành Cơ sở phái viên hành chính, trực thuộc quận Hoài Nhơn. Trụ sở phái viên hành chính An Lão đặt tại thôn Mỹ Đức[3]. Từ 1965 đến năm 1975, An Quang là vùng giải phóng dưới sự quản lý của tổ chức Đảng và chính quyền cách mạng huyện An Lão.
Sau 5 tháng kể từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước độc lập thống nhất, ngày 29/9/1975 Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ban hành Nghị quyết số 247-NQ/TW về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới và Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh... nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Theo đó, tỉnh Bình Định và tỉnh Quảng Ngãi được hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình[4].
Thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 20/12/1975 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tháng 01 năm 1976, tỉnh Nghĩa Bình tiến hành hợp nhất một số huyện, trong đó có việc hợp nhất huyện An Lão với huyện Hoài Ân[5] cùng xã Kông Trú (Kong Tru), Bok Tới (Bok Tơih), Đắk Mang (Đak Hmang[6]) thuộc huyện Vĩnh Thạnh thành huyện Hoài An, gồm có tổng cộng là 18 xã và 105 thôn. Sau khi sáp nhập vào huyện Hoài Ân thì 18 xã của huyện An Lão trước đây lập thành 6 xã mới[7], trong đó bốn xã: An Cư, An Hậu, An Mỹ và An Nghĩa hợp thành xã An Quang[8], gồm có 9 thôn. Nhữ vậy, tên gọi xã An Quang chính thức xuất hiện từ đầu năm 1976, đánh dấu mốc son lịch sử của địa phương và tồn tại cho đến ngày nay.
Sau hơn 5 năm hợp nhất đã nảy sinh nhiều vấn đề bất cập như địa bàn quá rộng, đặc điểm dân cư, văn hóa, kinh tế có sự khác biệt giữa miền núi, trung du và đồng bằng, gây khó khăn cho công tác lãnh đạo, quản lý, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 41/QĐ-HĐBT ngày 24/8/1981 về việc phân chia huyện Hoài An ra thành 2 huyện Hoài Ân và An Lão. Theo đó, huyện An Lão mới tái lập gồm có 7 xã[9]: An Hòa, An Trung, An Hưng, An Dũng, An Vinh, An Quang và An Toàn. Cơ quan hành chính huyện đóng tại xã An Trung.
Ngày 19/12/1986, thực hiện Quyết định 15/QĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về việc điều chỉnh địa giới hành chính của một số xã, huyện và thị xã trong tỉnh Nghĩa Bình. Trên địa bàn huyện An Lão thuộc địa phận Bình Định, xã An Quang chia thành 2 xã: An Quang và An Nghĩa. Xã An Quang tương ứng với địa bàn 3 xã cũ là An Cư, An Mỹ và An Hậu trước đây, gồm có 5 thôn (Thôn 2, Thôn 3, Thôn 4, Thôn 5 và Thôn 6). [10]Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức đời sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước mắt cũng như lâu dài; mở ra thời kỳ Đảng bộ xã An Quang phát huy tinh thần tự lực tự cường, đoàn kết cộng đồng các dân tộc, thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng các cấp, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Ngày 23/5/1997, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc và Miền núi ra Quyết định số 42-QĐ/BDTMN, công nhận An Lão là huyện miền núi gồm có 9 xã, 55 thôn; trong đó có ba xã miền núi là An Hòa, An Tân (khu vực II) và An Trung (khu vực III), sáu xã vùng cao là An Toàn, An Nghĩa, An Quang, An Hưng, An Dũng và An Vinh[11].
- Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
An Quang hiện nay là xã miền núi nằm ở phía Đông Nam huyện An Lão. Cách trung tâm huyện lỵ khoảng 12 km và cách thành phố Quy Nhơn khoảng 142 km. Theo số liệu thống kê năm 2020, xã An Quang hiện nay có diện tích tự nhiên là 5.563,97 ha và dân số là 1.085 người[12]. Phía Bắc giáp các xã An Vinh, An Trung, An Tân; phía Nam giáp xã An Nghĩa; phía Đông giáp xã An Hòa và phía Tây giáp xã An Toàn.
Xã An Quang có địa hình cao và dốc, chủ yếu là đồi núi bị chia cắt bởi nhiều sông suối với độ gấp khúc lớn. Với đặc điểm địa hình như vậy đã tác động đến quá trình sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân địa phương, nhất là vào mùa mưa. Tuy nhiên, trong các giai đoạn lịch sử kháng chiến chống giặc ngoại xâm, vùng đất An Quang là địa bàn thuận lợi cho quá trình xây dựng căn cứ cách mạng và hoạt động chiến tranh du kích.
Với địa hình đồi núi là chủ yếu, xã An Quang có tài nguyên đất rất đa dạng và đặc thù. Theo số liệu điều tra khảo sát, phân loại đất của tỉnh Bình Định, đất đai ở xã An Quang gồm có các nhóm chính như sau:
- Đất xám feralit đá nông: Cấp độ dốc 150 - 200.
- Đất xám feralit đá nông: Cấp độ dốc ≥ 200.
- Đất xám feralit đá sâu: Cấp độ dốc ≥ 200.
- Đất phù sa chua điển hình: Cấp độ dốc 1500 - 200.
Về khí hậu, xã An Quang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có hai mùa rõ rệt là: mùa khô và mùa mưa. Mùa khô bắt đầu từ tháng 2 đến hết tháng 8 có gió mùa Đông Bắc, độ ẩm thấp. Khoảng từ tháng 6 đến tháng 7 xuất hiện gió Tây Nam (dân gian thường gọi là gió Lào), hầu như không có mưa. Hướng gió thay đổi theo mùa, tốc độ gió trung bình cả năm là 2,5m/s, thấp nhất là 2,7 đến 2,8m/s. Đầu mùa hè thường có xuất hiện các đợt gió lớn.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến hết tháng 1 năm sau, lưu lượng mưa lớn gây lũ lụt, sạt lở ở nhiều nơi. Lượng mưa trung bình là từ 2.900 đến 3.000 mm/năm, lượng mưa phân bố không đều, lưu lượng mưa từ tháng 10 đến tháng 11 chiếm khoảng 75 đến 80% lượng mưa của cả năm, mùa mưa thường tập trung, gây ngập úng cục bộ, lũ quét. Trong các tháng 9, 10 và 11, thường xuất hiện các cơn bão và áp thấp nhiệt đới, gây ra mưa và gió lớn trên diện rộng.
Nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 26,5°C. Nhiệt độ trung bình lúc cao nhất 29,5°C, tập trung vào các tháng mùa khô, nhất là từ tháng 3 đến tháng 6 nhiệt độ có lúc lên trên 37C. Mùa hè nhiệt độ khá đồng đều, có 4 tháng nhiệt độ trung bình vượt quá 28°C. Hằng năm có khoảng 240 ngày nắng, tổng số giờ nắng 1.900 đến 2.420 giờ. Mùa khô có 70% tốc độ gió trong nắng cao khoảng từ 1.330 đến 1.700 giờ chiếm 70% giờ nắng trong năm.
Về hệ thống sông, suối. Sông Xang là con sông duy nhất chảy qua địa bàn 5 thôn của xã An Quang, dài khoảng 15 km. Sông bắt nguồn từ vùng núi cao của xã An Toàn, chảy vào địa bàn của xã tại Thôn 6 và Thôn 5 (An Hậu), tiếp tục đổ xuống các thôn: 4, 3 và 2 rồi xuôi ra sông An Lão. Sông Xang có độ dốc cao, vào mùa mưa nước sông chảy rất mạnh, còn mùa nắng thì lượng nước cũng dồi dào. Trên dòng sông này, tại Thôn 4 hiện có Công trình Thủy điện Nước Xáng được xây dựng và đưa vào sử dụng.
Xung quanh sông Xang, có hệ thống các suối từ các núi cao chảy ra dòng sông này. Đó là các suối nước Rung, nước Con, nước Lái, nước Lũ, nước Bo, suối Cát,... được phân bố không đồng đều giữa các vùng trong xã. Hệ thống các con suối này ngắn, có độ dốc cao, lưu tốc dòng chảy, chênh lệch giữa lưu lượng kiệt rất lớn nên mùa mưa gây lũ lụt, sa bồi thủy phá nghiêm trọng. Bên cạnh hệ thống sông suối tự nhiên, trong quá trình sinh sống, lao động sản xuất, người dân cũng từng bước xây dựng các kênh mương khắp các thôn làng đảm bảo cung cấp nước trong mùa khô và tiêu úng trong mùa mưa.
Nguồn nước ngầm của xã An Quang khá phong phú, các loại nước ngầm có chất lượng đạt tiêu chuẩn dùng cho sinh hoạt. Có thể khai thác để đáp ứng được nhu cầu của nhân dân, nhưng nhược điểm là khai thác sâu và có hiện tượng cạn kiệt vào mùa khô. Theo các số liệu khoan thăm dò ở độ sâu từ 6 - 34 mét, có thể khai thác nước ngầm (cá biệt có nơi từ 45 - 60 mét). Nguồn nước ngầm này chủ yếu cung cấp nước sinh hoạt cho các hộ gia đình.
Về tài nguyên rừng, theo thống kê năm 2015, tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng là: 3.547,28 ha, chiếm 63,75% diện tích đất tự nhiên; rừng sản xuất là 173,64 ha, chiếm 3,12% diện tích đất tự nhiên. Rừng tự nhiên ở An Quang là rừng nhiệt đới, lá rộng có nhiều loại gỗ có giá trị kinh tế cao như lim, trắc, sao, chò... Các loại lâm sản khác có trữ lượng khá lớn. Ngoài ra, còn có một số loại dược liệu quý hiếm. Mặc dầu chưa có những điều tra cụ thể, nhưng động vật rừng ở An Quang tương đối đa dạng, như heo rừng, chồn, cheo, nhím, hoẳng, kỳ đà, kỳ tôm, rắn.
Núi rừng ở xã An Quang không những cung cấp các loại lâm thổ sản có giá trị mà còn tạo ra các thác nước tự nhiên rất đẹp như khu vực Suối Đá tại Cây số Bảy với diện tích 12 ha, độ cao 248,6 mét so với mặt nước biển. Thắng cảnh Suối Đá tại Cây số Mười, diện tích 7 ha, độ cao 432 mét. Nhiều gộp đá ở đây trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã trở thành nơi trú ẩn cho cán bộ, nhân dân địa phương và các lực lượng vũ trang cách mạng để tránh phi pháo và bom đạn của kẻ thù, tiêu biểu là Gộp đá lớn (theo tiếng của đồng bào địa phương là Hmu Ca Lenb - Hang đá mài lớn).
Tài nguyên khoáng sản ở xã An Quang không đa dạng về chủng loại nhưng rất giàu về trữ lượng, có giá trị trong ngành công nghiệp và xây dựng như cát xây dựng, đá granite và một số loại khoáng sản khác bước đầu đang được thăm dò và khai thác để phục vụ phát triển kinh tế, dân sinh.
- Đời sống kinh tế - văn hóa
Xã An Quang có tài nguyên đất phong phú và đa dạng. Theo kết quả điều tra năm 2020, bình quân diện tích đất tự nhiên là 4,9 ha/người. Trong khi đó, bình quân diện tích đất tự nhiên của toàn huyện An Lão là 2,54 ha/người. Từ sớm, dựa vào dòng sông Xang chạy dọc theo địa bàn xã, nhân dân đã đắp các đập dâng, hồ chứa để khai thác nguồn nước tự nhiên phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng lúa và các loại cây lương thực để đảm bảo cuộc sống và trao đổi hàng hóa.
Diện tích đất lâm nghiệp có rừng ở xã An Quang chiếm tỷ lệ khá cao so với diện tích đất tự nhiên. Rừng tự nhiên ở An Quang là rừng nhiệt đới, lá rộng có nhiều loại lâm sản quý và có trữ lượng khá lớn. Tài nguyên rừng đa dạng và phong phú, do vậy kinh tế chủ đạo ở An Quang là kinh tế nông - lâm nghiệp với thế mạnh là bảo vệ, chăm sóc, trồng rừng và chăn nuôi gia súc. Tiêu biểu trong những năm gần đây, nhiều hộ gia đình đã đầu tư trồng các loại cây nguyên liệu ngắn ngày, nhiều nhất là keo lá tràm và chăn nuôi bò.
Trong sản xuất nông nghiệp, canh tác ruộng nước, người Hrê ở An Quang từ lâu đã biết gieo mạ trên đất khô, làm thủy lợi như be bờ, đắp đập và mương dẫn nước vào ruộng. Ngoài canh tác ruộng nước, người H’rê tiến hành làm nương rẫy, trỉa lúa, trồng ngô sắn; trồng cây công nghiệp như cau, thuốc lá,...; trồng cây ăn quả như thơm, chuối, mít... và các hoạt động kinh tế khác như săn bắn, đánh cá, hái lượm, chăn nuôi, các nghề thủ công và trao đổi hàng hóa. Ở mỗi làng, thường có một vài người đứng ra làm trung gian trong việc mua bán nông lâm thổ sản, hoặc trực tiếp thu mua hàng hóa trong làng mang đến chợ trao đổi, mua bán với thương lái người Kinh để tiêu thụ cau, trầu; các loại dược liệu như sa nhân, mật ong và các loại lâm sản khác.
An Quang là vùng đất được khai phá từ lâu đời, là nơi định cư của đồng bào các dân tộc thiểu số, đông nhất là đồng bào H’rê và đồng bào Bana. Khoảng từ nửa sau thế kỉ XIX, người Kinh mới bắt đầu đến định cư và sinh sống ở vùng đất này. Họ chủ yếu sinh sống ở dưới thấp, bên cạnh các con suối, làm nông nghiệp lúa nước và chăn nuôi; họ có vai trò không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Đồng bào H’rê cư trú chủ yếu ở phía Tây Nam của xã. Làng của người H’rê có tên gọi là Plây, được xây dựng trên các gò đồi, ở gần sông suối để thuận tiện cho việc lấy nước. Tên làng được lấy theo tên của các đồi núi, sông suối, tên của già làng, chủ làng. Trong làng tất cả các thành viên đều tuân thủ theo chủ làng[13]. Chủ làng là những người lớn tuổi, cương nghị, có đạo đức, am hiểu phong tục tập quán, cách làm ăn, được dân làng tôn trọng.
Phần lớn người Hrê ở An Quang làm ruộng lúa nước là chính, còn nương rẫy chủ yếu là trồng các loại khoai lang, sắn, bắp, chuối, mít,... Lối canh tác lúa rẫy được thực hiện theo quy trình: phát - đốt - chọc trỉa, với bộ nông cụ đơn giản gồm rìu, rựa (dao quắm), gậy chọc lỗ, cái nạo cỏ, khi thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Cách thức làm ruộng lúa nước thì tương tự như người Kinh ở vùng Nam Trung Bộ (dùng cày, bừa có đôi trâu kéo, biết gieo mạ và cấy, dùng liềm và vằng để gặt...) nhưng cũng còn thấy dấu vết của tập quán trồng lúa rẫy. Trong các hộ gia đình thường nuôi trâu bò, lợn, chó, gà. Nghề thủ công chỉ có đan đát và dệt vải nhưng nay cũng không phát triển, nhất là nghề dệt chỉ còn ở vài nơi.
Người H’rê ở trong các nhà sàn, có cửa ra vào ở mỗi đầu và một mặt bên, trên đỉnh nóc nhà có treo hình cặp sừng thú, vách nghiêng phía trên ra ngoài. Mặt sàn thường hơi cao một chút về phía không đặt bếp đun, nhằm tạo thế nằm thoải mái, triền chân thấp hơn đầu. Nhà ở trong làng đều dựng ngang đất dốc, tránh để đòn nóc chĩa hướng chắn ngang dòng chảy của sông suối.
Đồng bào H’rê ở xã An Quang có tín ngưỡng vạn vật hữu linh, quan niệm hệ thống siêu hình gồm nhiều loại, từng loại có tên cụ thể khác nhau có chức năng riêng biệt và được nhân cách hóa. Người H’rê tôn thờ các loại cây như cây sanh, cây bời lời... Họ coi đó là thần bản mệnh. Đặc biệt là cây lúa, có vị trí quan trọng quyết định sự tồn tại, nên hầu như các nghi thức tín ngưỡng đều liên quan đến loại cây này, như cầu khấn thần lúa (Yangs’re) trong các ngày lễ, ngày tết, ngày cúng cơm mới.
Hằng năm, vào tháng 2 - 3 âm lịch, người H’rê phát rẫy làm nương. Họ tổ chức cúng rẫy, cầu xin ông trời ban cho mùa màng bội thu, dân trong làng được ấm no. Người H’rê tổ chức ăn tết vào các tháng đầu năm, trước khi cúng rẫy. Tất cả các thành viên trong làng đều tổ chức tụ họp tại nhà chủ làng, tổ chức vui chơi, ca hát và chúc tụng. Qua đó thể hiện tinh thần đoàn kết gắn bó của đồng bào. Lễ cúng cơm mới được tổ chức vào khoảng tháng 8 âm lịch. Ngày lễ cúng cơm mới, từng nhà mổ heo, gà lấy phần đầu đem cúng tế trời đất, phần thịt xẻ ra. cùng nhau ăn uống, chúc tụng.
Trang phục cổ truyền của người H'rê, đàn ông đóng khố, mặc áo ngắn, cài khuy phía trước, đầu quấn một vòng khăn. Phụ nữ mặc áo mang yếm, trùm khăn, váy dài có 2 lớp. Trong quá trình giao lưu, hòa nhập với cư dân khác trong cộng đồng. trang phục của người H rê đã có nhiều thay đổi. Hiện nay, trang phục truyền thống chỉ được sử dụng trong các dịp lễ tết, lễ hội.
Sinh hoạt văn hóa cộng đồng là một trong những nét đẹp văn hóa của người H'rê, điều này được thể hiện qua các loại nhạc khí mà họ sử dụng, nhạc cụ của người H'rê rất phong phú và đa dạng gồm nhiều loại như: Talía, Rang Ngoi, Popel, Ravai, đàn Beook, đàn Brang, cồng chiêng. Ngoài ra, người H'rê còn là chủ nhân của các điệu múa như rung chinh, cheo chang, cheo giáo... các bài dân ca hay được sử dụng trong các ngày lễ hội và lưu truyền trong dân gian.
Người Bana ở xã An Quang không nhiều. Ngày xưa, ở khu vực người Bana sinh sống thường có những căn nhà dài, hiện nay chế độ gia đình lớn không còn nữa, mô hình các gia đình nhỏ với những căn nhà sàn gọn gàng xuất hiện ngày càng nhiều. Nhà sàn ngắn của các gia đình nhỏ là phổ biến. Nhà sàn thường dài từ 7 mét đến 15 mét, rộng từ 3 đến 4 mét, cao từ 4 đến 5 mét, sàn cách mặt đất khoảng từ 1 đến 1,5 mét.
Nếu như người H'rê ở An Quang chủ yếu làm ruộng nước thì cộng đồng người Bana gắn với hoạt động kinh tế nương rầy. Họ phát rẫy tỉa lúa và trông các loại hoa màu như khoai sắn, rau xanh. Từ sau ngày giải phóng đến nay, nhờ sự quan tâm hướng dẫn của Đảng bộ và chính quyền địa phương, đồng bào Bana đã biết trồng đa canh và chuyên canh một số loại cây có giá trị kinh tế cao như bông, điều, quế, thuốc lá,... Kết hợp với hoạt động chăn nuôi trâu bò và các loại gia cầm, nhờ đó làm thay đổi nhanh chóng đời sống của đồng bào.
Đồng bào Bana theo tín ngưỡng vạn vật hữu linh tôn thờ cây đa và cây gạo (cây gạo gọi là ronbren) biểu trưng cho sự nhiều thế trường tồn và sức sống dẻo dai mạnh mẽ. Trải qua hệ, đồng bào Bana ở An Quang đã xây dựng một nền văn hóa dân gian phong phú và độc đáo. Đó là các sử thi, cổ tích, dân ca, các công trình điêu khắc khắc họa các hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng của dân tộc tại địa phương.
Nhìn chung, đồng bào các dân tộc ở An Quang luôn đoàn kết, cần cù trong lao động và sản xuất, có tinh thần yêu nước và truyền thống đấu tranh cách mạng. Qua các giai đoạn lịch sử, đồng bào các dân tộc ở đây đã tạo nên bản sắc văn hóa và những giá trị truyền thống tốt đẹp.
- Di tích, danh thắng và nhân vật
Trải qua thời gian hình thành và phát triển, cũng như các địa phương khác ở huyện An Lão; vùng đất trên địa bàn xã An Quang ngày nay cũng có những di tích và danh thắng tiêu biểu.
Di tích Gộp đá An Quang
Di tích Gộp đá An Quang [14]là nơi ghi dấu một sự kiện lịch sử đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) của quân dân xã An Quang, huyện An Lão nói chung và Anh hùng Lực lượng vũ trang người H’rê - liệt sĩ Đinh Ruối nói riêng.
Di tích Gộp đá An Quang nằm ở tọa độ 14°32′ vĩ Bắc và 108053’ kinh Đông trên bản đồ hành chính quốc gia, thuộc triền phía Tây của dãy núi Đá Môn (trước đây nhân dân thường gọi là núi Đá Mòn), với độ cao 480 mét so với mực nước biển. Di tích Gộp đá An Quang thuộc địa phận thôn 4, xã An Mỹ (nay là thôn 2, xã An Quang); có vị trí địa lý nằm ở phía Tây Bắc Trung tâm hành chính xã An Quang, huyện An Lão.
Gộp đá An Quang là một hang đá rộng lớn có thể chứa được hàng trăm người. Trong hang có nhiều ngóc ngách sâu hàng chục mét, được bao bọc bởi những khối đá hoa cương, đồ sộ, vững chãi. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), Gộp đá An Quang là nơi trú ẩn tránh bom đạn của đồng bào các bản làng xung quanh và là nơi Huyện ủy An Lão, Quân khu 5 thường tổ chức các cuộc họp hành, mở các lớp học tập chính trị cho quân đội, cán bộ địa phương. Sau khi Mỹ và quân đội Sài Gòn phát hiện hang đá này là nơi trú ẩn của quân dân xã An Quang, huyện An Lão và các lực cách mạng cho nên chúng nhiều lần tìm cách lượng vũ trang tiêu diệt, cho máy bay ném bom đánh phá liên tục suốt ngày đêm vào khu vực này.
Tháng 7/1967, một tiểu đoàn quân đội Mỹ được trang bị vũ khí tối tân, hiện đại, có máy bay, pháo binh yểm trợ tiến hành càn quét đánh vào khu vực Gộp đá lớn. Tại đây, lực lượng du kích An Mỹ với 3 đồng chí: Đinh Mân, Đinh Ruối và Đinh Dua đã gan dạ, kiên trì bám trụ chiến đấu đẩy lùi cuộc tấn công của kẻ thù, bảo vệ hơn 40 gia đình (khoảng 70 đồng bào dân tộc), đa phần là phụ nữ, người già và trẻ em đang ẩn náu trong hang đá. Tiêu biểu trong sự kiện chiến đấu này là tấm gương hy sinh dũng cảm của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân người dân tộc H’rê - Liệt sĩ Đinh Ruối.
Cuộc chiến đấu của quân và dân An Mỹ (nay thuộc xã An Quang) tại Gộp đá lớn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) là một trong những sự kiện lịch sử tiêu biểu của chiến tranh du kích trên chiến trường Bình Định, là minh chứng cho tinh thần chiến đấu bền bỉ, gan dạ, anh dũng hy sinh để bảo vệ sự sống cho đồng bào các dân tộc địa phương. Với những giá trị đó, sự kiện xảy ra tại Gộp đá lớn của du kích An Mỹ tháng 7 năm 1967, được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định ra Quyết định số 2739/QĐ-UBND ngày 27 tháng 9 năm 2013, xếp hạng là Di tích lịch sử cấp Tỉnh với tên gọi là Di tích Gộp đá An Quang, thuộc loại hình di tích lịch sử nơi ghi nhận sự kiện.
Hiện nay, sự sống đã hồi sinh trên mảnh đất này. Gộp đá lớn lặng lẽ ẩn mình trên núi cao, rừng xanh thẳm. Để tham quan di tích, có thể di chuyển bằng phương tiện giao thông đường bộ từ thành phố Quy Nhơn ra thị trấn Bồng Sơn, theo Tỉnh lộ 269 về phía Tây, đến chợ Xuân Phong, xã An Hòa, theo đường liên xã đi vào phía Nam, qua sông An Lão đến Ủy ban nhân dân xã An Quang. Sau đó tiếp tục đi bộ, băng rừng vượt qua đỉnh núi Đá Môn đổ xuống triền núi phía Tây khoảng 3 km là đến di tích lịch sử Gộp đá An Quang.
Di tích Trường Quân chính Quân khu 5
Trường Quân chính Quân khu 5 được thành lập ngày 11 tháng 4 năm 1961 tại khu rừng Tak-pơ-lăng thuộc xã Riềng, huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc địa bàn 2 xã: Trà Giác và Trà Giáp, huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam) với mật danh là “Thôn Bằng”. Do điều kiện chiến tranh, để đảm bảo tính bí mật, Nhà trường di chuyển nhiều lần, qua nhiều địa bàn khác nhau. Sau thắng lợi của chiến dịch tiến công tổng hợp Xuân Hè 1972 ở Bắc Bình Định, để có điều kiện huấn luyện ổn định và an toàn, tháng 9/1972, Trường Quân chính Quân khu 5 được chuyển về địa bàn hai xã An Quang và An Hòa, huyện An Lão, tỉnh Bình Định, trong đó doanh trại Ban Chỉ huy của Trường đóng tại địa phận thôn 2, xã An Quang ngày nay.
Trong thời gian đóng trên địa bàn xã An Quang (9/1972 - 11/1972), Trường Quân chính Quân khu 5 có nhiều hoạt động quan trọng, góp phần vào quá trình chống Mỹ cứu nước của nhân dân địa phương. Tổ chức các khóa huấn luyện, đào tạo, bổ túc cán bộ quân sự, chính trị cấp tiểu đoàn, đại đội bộ binh và các binh chủng; tham gia chiến đấu bảo vệ căn cứ; bổ sung cán bộ cho các đơn vị chiến đấu; sản xuất lương thực, hỗ trợ nhân dân.
Trường Quân chính Quân khu 5 được xây dựng chủ yếu bằng gỗ rừng, tre, nứa, mái lợp tranh, ngụy trang dưới tán cây cổ thụ. Trải qua thời gian và sự tàn phá của chiến tranh, hiện nay, khu vực Trại Chỉ huy - nơi Ban Lãnh đạo Trường Quân chính Quân khu 5 ở và làm việc được xác định trên ngọn đồi có tục danh là hố Bà Sóc (nhân dân địa phương gọi là đồn Pháp cũ). Dấu tích còn lại là bờ thành xếp bằng đá dài khoảng 100 mét thuộc khu vực rẫy nhà ông Đinh Văn Phúc, nằm ở tọa độ 1434.554’ vĩ Bắc, 10853.946’ kinh Đông. Trước đây, vào những năm chiến tranh khu vực này được bao bọc bởi rừng cây cổ thụ rậm rạp, không có cư dân sinh sống. Đối diện với khu vực Trại Chỉ huy, bên kia dòng sông Xang là khu Trạm Quân y của Trường nằm dọc suối Nước Bum, hiện nay thuộc khu vực rẫy nhà bà Đinh Thị Riêng, nằm ở tọa độ 1432.962 vĩ Bắc, 10852.776 kinh Đông; kế bên Trạm Quân y là khu bếp ăn, bên cạnh có dòng suối Nước Trong thuộc thôn 1 (hiện nay là vườn nhà ông Đinh Văn Thí, xã An Tân). Cánh đồng Nước Trong xưa kia là khu vực đóng quân của các đại đội và thao trường luyện tập. Ngoài ra, các đại đội còn đóng quân và luyện tập ở nhiều địa điểm thuộc thôn 2 của xã hiện nay.
Di tích Trường Quân chính Quân khu 5 thuộc Thôn 2, xã An Quang, huyện An Lão là địa điểm thứ 14 trong quá trình hoạt động. Qua đó, cho thấy nơi đây là căn cứ địa vững chắc trong những năm hoạt động và chiến đấu của cách mạng, là niềm tự hào của quân dân xã An Quang nói riêng và huyện An Lão nói chung. Vì vậy năm 2013, di tích Địa điểm Trường Quân chính Quân khu 5 được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định xếp hạng di tích lịch sử cấp Tỉnh. Trong thời gian tới rất cần sự quan tâm tôn tạo của các cấp, các ngành để di tích này là địa chỉ giáo dục truyền thống cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Công trình Thủy điện Nước Xáng
Bình Định là một tỉnh thuộc vùng Nam Trung Bộ Việt Nam có nhu cầu khá lớn về điện để phát triển kinh tế phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh. Trong những năm đầu thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển lớn mạnh không ngừng của các ngành kinh tế trong cả nước, ngành Điện cũng có sự phát triển mạnh về chất và lượng. Tuy nhiên, hàng năm sản lượng điện thiếu hụt so với nhu cầu phụ tải ngày càng lớn; vì vậy nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi ngành Điện phải nghiên cứu bổ sung thêm năng lượng bằng nhiều nguồn khác nhau - đặc biệt là thủy điện, vốn là một nguồn năng lượng tiềm năng sẵn có của thiên nhiên ban tặng cho các vùng núi Trung Bộ của đất nước.
Khu vực xã An Quang, huyện An Lão có Công trình thủy điện Nước Xáng. Dự án Thủy điện Nước Xáng xã An Quang, huyện An Lão được phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ của tỉnh Bình Định tại Quyết định số 9150/ QĐ-BCT ngày 31/8/2015 của Bộ Công Thương với công suất thiết kế là 12,5 MW.
Đoạn suối Nước Xáng chảy qua khu vực địa phận xã An Quang có độ dốc lớn, lượng nước dồi dào, tạo điều kiện thuận lợi để khai thác thủy điện. Tận dụng chênh lệch cao độ của đoạn suối Nước Xáng khoảng 330m, Q = 2,14m3/s. Chế độ phát điện phụ thuộc hoàn toàn vào chế độ nước đến, không làm ảnh hưởng đến việc khai thác thủy năng trên lưu vực, không ảnh hưởng đến những quy hoạch tài nguyên nước, thủy lợi, thủy điện nhỏ hiện có của khu vực.
Công trình có công suất tương đối lớn so với quy hoạch hiện tại ở khu vực. Sơ đồ khai thác tận dụng triệt để nguồn năng lượng sạch, mang lại hiệu quả cao, đồng thời giảm được tối đa diện tích đất bị trưng dụng, điều kiện vận hành an toàn.
Việc đầu tư xây dựng công trình sẽ là một yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của huyện An Lão nói riêng và tỉnh Bình Định nói chung.
Tháng 4/2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định có văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư dự án Nhà máy thủy điện Nước Xáng tại xã An Quang, huyện An Lão do Công ty cổ phần Thủy điện An Quang triển khai các thủ tục đầu tư. Từ đó, Công ty triển khai thuê các tổ chức tư vấn lập báo cáo khảo sát và báo cáo nghiên cứu khả thi - thiết kế cơ sở của dự án, tiến hành lập thủ tục trình cơ quan thẩm quyền điều chỉnh quy hoạch để chuẩn xác các thông số chính của dự án; đồng thời lập dự án chi tiết, báo cáo đánh giá tác động môi trường và các thủ tục về đất đai, xây dựng, đầu tư liên quan đến dự án trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Và đến tháng 10/2015 Công ty cổ phần Thủy điện An Quang được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận đầu tư.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận đầu tư, Quý I năm 2016, Công trình Thủy điện Nước Xáng được khởi công xây dựng. Sau hơn một năm rưỡi thi công, đến ngày 31 tháng 8 năm 2017 tiến hành đóng điện đường dây truyền tải từ nhà máy đến điểm đấu nối với hệ thống điện lưới Quốc gia tại TBA 110 KV Hoài Nhơn. Và ngày 21 tháng 9 năm 2017 hoàn thành chạy thử mang tải 02 tổ máy, chính thức phát điện hòa lưới Quốc gia. Kinh phí đầu tư xây dựng công trình là 298 tỷ đồng và sản lượng điện thiết kế là 43,18 triệu KWh/năm.
Công trình Thủy điện Nước Xáng đi vào hoạt động góp phần cung cấp thêm nguồn năng lượng cho hệ thống điện Quốc gia và tăng nguồn thu ngân sách hàng năm cho địa phương[15]. Ngoài ra, trong quá trình vận hành, sản xuất và kinh doanh điện năng, Công ty cổ phần Thủy điện Nước Xáng cũng có những đóng góp cho sự phát triển của địa phương An Quang, như hỗ trợ về kinh phí cho chính quyền, đoàn thể để tổ chức những hoạt động lễ hội, tặng quà cho tập thể và các gia đình chính sách nhân dịp Tết Nguyên đán, ngày Thương binh liệt sĩ; xây dựng và sửa chữa thường xuyên hệ thống điện chiếu sáng giao thông nông thôn trên địa bàn các thôn xóm,...
Với vị trí địa lý thuận lợi cho việc phát triển năng lượng tái tạo. Trong tương lai Công ty cổ phần Thủy điện An Quang sẽ triển khai lắp đặt thêm hệ thống điện năng lượng mặt trời trên khu vực công trình Nhà máy thủy điện Nước Xáng. Đây cũng là nguồn năng lượng cần thiết để bổ sung vào lưới điện tại địa phương, đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của xã An Quang nói riêng, huyện An Lão nói chung. Ngoài ra, với điều kiện tự nhiên, giao thông thuận lợi, Nhà máy thủy điện Nước Xáng còn là điểm đến du lịch - nơi để cho bà con nhân dân trong xã và các địa phương khác tới tham quan công trình theo tuyến du lịch An Lão - An Quang - An Toàn.
Danh thắng tự nhiên
Ngoài 2 di tích lịch sử và Công trình Thủy điện Nước Xáng, xã An Quang, huyện An Lão, tỉnh Bình Định là địa bàn có một số danh lam, thắng cảnh với vẻ đẹp tự nhiên và hoang sơ. Điển hình như khu vực Suối đá tại Cây số Bảy (xã An Quang), diện tích khoảng 12 ha, độ cao 248,6 mét so với mặt nước biển, cách trung tâm huyện lỵ An Lão 14 km. Tiếp theo là thắng cảnh Suối đá tại Cây số Mười (xã An Quang), diện tích 7 ha, độ cao 432 mét, cách trung tâm huyện An Lão 17 km. Phong cảnh thiên nhiên ở đây rất đẹp và hữu tình mang đậm chất hoang sơ, có rừng, suối, ruộng đồng. Thiên nhiên nơi đây tuyệt đẹp với những vách đá cheo leo xen lẫn những con suối trong veo, mát lạnh. Những con đường đèo quanh co, uốn lượn giữa lưng chừng núi. Đây là một địa điểm du lịch hấp dẫn cho những người thích khám phá thiên nhiên.
Với tiềm năng thiên nhiên đa dạng, phong phú, bản sắc văn hóa độc đáo, người dân thân thiện, cởi mở, địa bàn xã An Quang rất có triển vọng phát triển du lịch sinh thái. Vấn đề cần làm là phải có quy hoạch và giải pháp đồng bộ, vừa hỗ trợ nguồn vốn vay, tập huấn hướng dẫn người dân đầu tư khai thác các dịch vụ như lưu trú, ẩm thực, cung cấp các sản phẩm truyền thống của địa phương... để phát triển du lịch theo hướng cộng đồng.
Hiện nay, Ủy ban nhân dân huyện An Lão đang kêu gọi đầu tư quy hoạch chi tiết các danh lam thắng cảnh, hướng đến phát triển du lịch sinh thái cộng đồng, kết hợp phát huy các nét văn hóa độc đáo của đồng bào dân tộc thiểu số.
Anh hùng Đinh Ruối
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), quân và dân An Lão lập nên nhiều chiến công, trong đó có sự đóng góp của những cá nhân tiêu biểu. Một trong số đó là tấm gương chiến đấu và hy sinh dũng cảm của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân - Liệt sĩ Đinh Ruối.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân - Liệt sĩ Đinh Ruối sinh năm 194[16] tại thôn 4, xã An Mỹ, huyện An Lão, tỉnh Bình Định (hiện nay thuộc thôn 3 xã An Quang, huyện An Lão, tỉnh Bình Định); là người con của đồng bào dân tộc H’rê, xuất thân trong một gia đình nghèo. Từ nhỏ được tiếp xúc và được các cán bộ cách mạng giáo dục, sớm tham gia vào lực lượng du kích địa phương, chiến đấu bảo vệ xóm làng.
Từ khi tham gia vào đội du kích xã cuối năm 1959, trong hoàn cảnh kẻ thù từ chỗ dụ dỗ, mua chuộc đến tổ chức đánh phá, tiêu diệt lực lượng cách mạng với những thủ đoạn tàn bạo, man rợ. Đinh Ruối và nhân dân địa phương vẫn một lòng tin tưởng vào cách mạng, vừa tham gia lao động sản xuất, vừa tích cực xây dựng lực lượng, lập làng chiến đấu, từng bước phục hồi phong trào cách mạng, vùng lên tiêu diệt bọn tề điệp của chính quyền Sài Gòn, giành quyền làm chủ quê hương vào cuối năm 1960.
Trong những năm 1961 - 1964, Đinh Ruối luôn đi đầu trong các cuộc đấu tranh chính trị chống lại chính quyền Sài Gòn và tham gia xây dựng bố phòng, chiến đấu chống lại các cuộc càn quét của quân đội Sài Gòn. Trong thời gian này, Anh đã đào 17 hầm chông, vót và cắm hơn 2.000 cây chông, cùng với du kích xã phục kích đánh địch, bảo vệ xóm làng. Ngoài ra, Anh còn gương mẫu trong lao động sản xuất, tham gia trồng hơn 10.000 gốc mì (sắn).
Trong chiến dịch An Lão cuối năm 1964, đầu năm 1965, Đinh Ruối xung phong cùng với đơn vị tham gia bao vây, đánh chiếm Chi khu An Lão và chốt Thánh giá thuộc xã Ân Tín, huyện Hoài Ân tiêu diệt 7 quân địch, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tháng 2/1965, Mỹ đưa quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ vào miền Nam Việt Nam, triển khai thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ. Ở Bình Định, Mỹ liên tục tiến hành những cuộc hành quân trong hai mùa khô: 1965 - 1966 và 1966 - 1967, đánh phá vào vùng giải phóng miền núi An Lão để “tìm diệt” và “bình định”. Đội du kích xã An Mỹ vừa bám trụ, vừa sản xuất để cứu đói, vừa chiến đấu chống càn, bảo vệ đồng bào, giữ vững địa bàn. Bản thân Đinh Ruối trực tiếp tham gia 6 trận đánh lớn, tiêu diệt 30 lính Mỹ, được Huyện ủy An Lão tặng Giấy khen.
Giữa năm 1967, ngoài việc dùng phi pháo từ Hoài Ân, Hoài Nhơn bắn lên, địch còn cho máy bay suốt ngày quần đảo thả bom, bắn phá ở những nơi mà chúng tình nghi là có lực lượng vũ trang và đồng bào ta trú ẩn; gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt.
Trực tiếp chứng kiến tình cảnh cuộc sống của đồng bào quá khó khăn, sinh mạng luôn bị đe dọa, Đinh Ruối nhiều đêm không bao giờ ngủ yên giấc, luôn trằn trọc suy nghĩ tìm cách để làm sao bắn rơi được máy bay địch. Cho đến một đêm, ý hay được hiện lên, sáng sớm hôm sau, Đinh Ruối báo cáo ngay với Xã đội trưởng và đồng đội. Nhiều ý kiến trao đổi, ý góp thêm cho ý tưởng và Anh rất phấn khởi quyết tâm thực hiện kế hoạch. Anh còn nói với đồng chí Xã đội trưởng: Nếu tui bắn rơi máy bay thì cho tui đi thăm già Hồ, nge eng?.
Một hôm, Đinh Ruối ngụy trang một số bếp lửa ở vị trí thấp, dưới những tầng cây sum suê cành lá, cách xa khu vực đồng bào cư trú. Bản thân Anh thì được ngụy trang phục kích ở cửa hang đá có vị trí an toàn, thuận lợi, dễ dàng quan sát và bắn trúng máy bay địch.
Khi phát hiện khu vực có khói bay lên, hai chiếc máy bay của địch liền bay đến, quần đảo nhiều lần vừa bắn rốc két vừa ném bom xuống mục tiêu mà chúng phát hiện. Ở vị trí trên cao, nhiều lúc tưởng như máy bay bổ nhào vào mình, nhưng Đinh Ruối vẫn không hề nao núng. Anh bình tĩnh giương súng ngắm chính xác vào máy bay địch và bóp cò súng. Ngay lập tức, máy bay trúng đạn của Anh bắn, bốc cháy và lao xuống mặt đất. Cả làng cùng với đơn vị du kích của xã vui mừng, bởi đây là lần đầu tiên người H’rê bắn rơi máy bay địch.
Những ngày sau đó, địch liên tục cho máy bay trinh sát lượn đảo trên bầu trời xung quanh khu vực vùng núi Đá Mòn (thôn 3, xã An Quang hiện nay) để do thám mục tiêu bắn phá tiêu diệt lực lượng cách mạng. Hàng loạt đạn pháo lớn nhỏ tới tấp trút xuống; sau đó là máy bay phản lực đến thả những quả bom lớn xuống, làm rung chuyển cả xóm làng. Hơn 70 đồng bào dân tộc của làng (phần lớn là người già và trẻ em) phải rời bỏ nhà cửa để vào trú ẩn tại một hang đá nằm sâu trong núi - có tên là Gộp đá lớn.
Vào một ngày tháng 7/1967, ngay từ sáng sớm, Mỹ cho pháo binh bắn liên tục vào Gộp đá lớn, cùng với đó là máy bay quần đảo ném bom từ phía trên. Khoảng 8 giờ sáng, chúng bắt đầu cho máy bay trực thăng đổ quân xuống các địa điểm gần cửa hang và tiến hành tấn công vào Gộp đá lớn.
Được giao nhiệm vụ bảo vệ đồng bào trong Gộp đá lớn là 3 du kích xã, trong đó có Đinh Ruối, với những vũ khí thô sơ là 1 khẩu súng trường, 1 khẩu tiểu liên và 1 khẩu ga-răng cùng 370 viên đạn. Nhận thấy sự nguy hiểm đang đến gần, 3 du kích xã tổ chức cho người già và trẻ em di chuyển sâu vào các hẻm nhỏ, còn đàn ông thì sẵn sàng cầm dao, dựa, mác trên tay quyết sống chết với kẻ thù. Tiểu đội trưởng Đinh Mân, phân công Đinh Ruối với khẩu súng trường Mas chốt chặn ở cửa hang phụ, còn mình và Đinh Dua thì ngăn chặn địch tấn công ở cửa hang chính.
Sau 7 tiếng đống hồ tấn công bằng hỏa lực mạnh, nhưng địch không thể nào vào được bên trong hang đá. Khoảng 3 giờ chiều, địch chuyển hướng tấn công mạnh hơn ở cửa hang phụ do Đinh Ruối canh giữ. Không hề run sợ, với khẩu súng trường Mas bắn phát một và vài chục viên đạn, anh bình tĩnh chờ từng lính Mỹ đến gần và bắn tiêu diệt. Đến 6 giờ chiều thì súng hết đạn, nhưng ở bên ngoài địch vẫn tìm cách xâm nhập vào hang. Với ý chí kiên cường, Đinh Ruối lấy lê lắp vào súng và giữ nguyên vị trí chiến đấu. Một lính Mỹ vừa bước xuống cửa hang phụ đã bị Đinh Ruối dâm ngay lưỡi lê vào bụng ngã nhào xuống hang và tử vong. Vừa lúc ấy, một quả lựu đạn của địch ném vào làm cho Đinh Ruối hy sinh. Cho đến tối, trong lúc bị tổn thất nhiều binh lực nhưng không xâm nhập vào hang đá, địch quyết định rút quân.
Trong trận chống càn tại Gộp đá lớn, Đinh Ruối cùng các đồng đội đã tiêu diệt 40 quân địch và làm bị thương 10 lính; bảo vệ an toàn hơn 70 đồng bào và căn cứ địa cách mạng. Đinh Ruối, người con của bản làng H’rê - An Mỹ, An Quang đã mãi mãi nằm lại tại Gộp đá lớn thuộc ngọn Đá Mòn. Sự hy sinh của anh như một ngọn lửa hun đúc lòng yêu nước, chí căm thù giặc đối với quân dân xã An Quang nói riêng, huyện An Lão nói chung.
Với những đóng góp và chiến công của anh, năm 1976 Đinh Ruối được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Gương sáng của anh hùng Đinh Ruối mãi mãi được ghi nhận, truyền tụng và là niềm tự hào của dân tộc Hrê.
- PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN AN QUANG ĐẾN NĂM 1945
- Đấu tranh chống áp bức, bóc lột từ nguồn gốc đến năm 1884
H’rê là dân tộc sinh sống lâu đời tại vùng đất An Quang nói riêng, huyện An Lão nói chung. Trong quá trình phát triển, một mặt họ dựa vào điều kiện tự nhiên, cần cù lao động để đảm bảo cuộc sống và góp phần xây dựng bản làng; mặt khác, họ phải không ngừng đứng lên đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị dưới chế độ phong kiến.
Sau khi thuộc quyền quản lý của Đại Việt năm 1471, cũng như nhiều vùng đất khác của huyện An Lão, khu vực An Quang chưa có sự quản lý của nhà Hậu Lê, đồng bào các dân tộc ở đây vẫn còn sinh sống trong giai đoạn tiền giai cấp. Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII, vùng đất Bình Định mới dần dần trở thành một trong những trung tâm kinh tế ở Đàng Trong, làng mạc ngày càng trù phú, quan hệ trao đổi buôn bán giữa đồng bằng và khu vực miền núi An Lão từng bước được diễn ra, góp phần thúc đẩy sự phát triển về kinh tế - xã hội.
Nhờ có nguồn lâm thổ sản phong phú, hoạt động khai thác lâm thổ sản được đẩy mạnh, vùng đất An Quang trở thành nơi cung cấp một lượng hàng hóa cho đồng bằng Bình Định. Căn cứ vào chính sử triều Nguyễn, đối chiếu với những địa danh và đơn vị hành chính hiện nay, có thể khẳng định, An Quang trở thành điểm đầu quan trọng của 2 cửa nguồn[17] thu thuế lớn của chính quyền chúa Nguyễn, đó là nguồn Trà Đinh (thời nhà Nguyễn gọi là nguồn Trà Bình), thủ sở đóng tại thôn Hưng Nhơn (xã An Tân, huyện An Lão ngày nay). Hầu hết các làng của xã An Quang lúc bấy giờ đều thuộc quản lý của nguồn Trà Đinh. Từ thời kỳ phong kiến, thủ sở của nguồn Trà Đinh đều có đường bộ đi lên xã An Quang. Trên tuyến đường này, các sản vật núi rừng được chuyển xuống, ngược lại, muối, mắm và các sản vật biển được gửi lên.
Từ giữa thế kỷ XVIII, chính quyền phong kiến ở Đàng Trong rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Để đáp ứng nhu cầu tiêu xài của bộ máy chính quyền phong kiến mục nát; chúa Nguyễn tăng cường thu thuế. Theo ghi chép của Lê Quý Đôn, ở nửa sau thế kỷ XVIII, Bình Định có 6 nguồn thu thuế lớn: Hà Nghiêu, Ô Kim, Đá Bàn, Cầu Bông, Trà Đinh và Trà Vân; trong đó nguồn Trà Đinh phải đóng nộp số thuế lớn nhất[18]. Do có nguồn thu lớn, khi quyền thần Trương Phúc Loan thâu tóm quyền hành về chính trị và kinh tế ở Đàng Trong, ông đã nắm 5 nguồn thu thuế lớn ở Đàng Trong, trong đó có nguồn Trà Đinh và Trà Vân. Đây là một trong những nguyên nhân lý giải vì sao, dân tộc H'rê ở thượng nguồn Trà Đinh, Trà Vân nổi dậy hưởng ứng phong trào Tây Sơn.
Năm 1771, trong quá trình chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa, nghĩa quân Tây Sơn đã lôi kéo sự ủng hộ của đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi rừng Bình Định như Bana, Chăm, H’rê... Hưởng ứng lời kêu gọi của nghĩa quân Tây Sơn, đồng bào dân tộc Hrê ở An Quang cũng tham gia, hỗ trợ sức người, sức của, góp phần đưa phong trào đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Do có mối quan hệ chặt chẽ với nghĩa quân nên sau khi phong trào Tây Sơn thất bại, nhà Nguyễn thành lập, Gia Long cho thực thi chính sách trả thù, An Quang cũng như khu vực An Lão, Hoài Ân (Bình Định), Ba Tơ (Quảng Ngãi), trở thành nơi bao bọc cho các tướng lĩnh Tây Sơn[19]. Năm 1818, vua Gia Long đã phái Tả quân Lê Văn Duyệt vào trấn thủ vùng đất được xem là “bất trị” này. Lê Văn Duyệt cho xây dựng Trường lũy với tên gọi mới là “Trường lũy Sơn phòng”. Trường lũy được xây dựng rất kiên cố và có lính canh gác nghiêm ngặt nhưng từ đời vua Minh Mạng đến vua Tự Đức vẫn không thể nào ngăn chặn được sự nổi dậy của đồng bào các dân tộc. Tại đây diễn ra nhiều cuộc nổi dậy của nhân dân các dân tộc Bana, H’rê và có sự tham gia của người Kinh chống lại chính sách cai trị của nhà Nguyễn kéo dài suốt nhiều năm.
Điển hình cho phong trào đấu tranh chống lại triều đình phong kiến nhà Nguyễn ở Bình Định là những cuộc đấu tranh của đồng bào H’rê ở An Quang nói riêng, huyện miền núi An Lão nói chung. Dựa vào chính sử triều Nguyễn, có thể khẳng định đồng bào H’rê ở các làng An Quang thường xuyên nổi dậy chống áp bức, bóc lột dưới triều Nguyễn. Năm 1829, trấn thần Bình Định tâu: Hai nguồn Trà Vân, Trà Bình (thuộc huyện Bồng Sơn)... thường có hoang man[20] quấy phá, gần đây chia đặt 32 đồn luân phiên đóng binh phòng thủ không phải là không nghiêm ngặt, thế mà bọn man còn thường thừa sơ hở lén xuống làng giết hại dân Việt (Kinh)[21]. Tiếp đó, năm 1831 lực lượng dân tộc thiểu số cướp phá nguồn Trà Bình, dân sở tại đánh nhau với chúng, bắt và chém được 6 người[22]. Năm 1834, các dân tộc ít người ở nguồn Trà Vân, Trà Bình nổi dậy, đánh phá quan quân triều đình, cướp của rồi rút vào rừng. Minh Mệnh cho cắt chức Viên thủ ngự ở đây, quan tỉnh bị giáng một cấp[23].
Để đối phó với các cuộc nổi dậy của người H’rê ở Trà Bình, Trà Vân, chính quyền nhà Nguyễn phải tăng cường lực lượng, đồn lũy. Năm 1857, quan tỉnh (Bình Định) đem việc tâu lên và xin dời hai đồn Trà Bình, Trà Vân (nguyên ở ven núi) xuống gần khu vực đồng bằng. Đồng thời, nhằm khích lệ binh sĩ trong việc đàn áp các cuộc nổi dậy của đồng bào dân tộc thiểu số. Năm 1858, vua Tự Đức chuẩn định lệ tiền thưởng, tiền tuất cho quân lính đi đánh các cuộc nổi dậy của đồng bào dân tộc thiểu số, binh dân các xứ Trà Bình, Trà Vân ở Bình Định, Tĩnh Man ở Quảng Ngãi, Chiên Đàn ở Quảng Nam bắt sống hay chém được đầu mục giặc Man, mỗi thủ cấp cắt lấy 7 quan tiền. Ai chết trận thì cấp cho tiền 6 quan, dân thì 5 quan, vải đầu mỗi người 1 tấm. Ai bị thương nặng thì cấp cho 3 quan, nhẹ thì 2 quan[24]. Mặc dù vậy, đồng bào dân tộc H’rê ở An Quang, An Lão vẫn tiếp tục nổi dậy.
Công cuộc thu phục của triều Nguyễn đối với đồng bào dân tộc H’rê vùng đất An Quang đến năm 1872 mới đạt được những kết quả nhất định. Chính sử triều Nguyễn chép: Tù trưởng người Man ở 9 sách Man (Chôi Ôi, Đèo Căng, Nước Trắng, Na Khái, Đồng Nông, Đồng Tre, Nước Trong, Nước Lôi, Nước Giáp) thuộc tỉnh Bình Định đem người, súc vật, súng và khí giới đã cướp được đến quân thứ thú tội xin hàng. Duy có 2 sách Man là Húc Quang, Gò Hương lẻn xuống cướp bóc, bọn Bố chính Lê Kiên, Lãnh binh Nguyễn Mỹ đốc sức biền binh đi đánh phá tan, được thăng thưởng có thứ bậc[25]. Nhưng năm 1873, đồng bào H’rê trong một số sách ở An Quang tiếp tục đấu tranh, lực lượng triều đình bắt được 9 người. Đầu năm 1874, triều đình Nguyễn buộc phải huy động lực lượng lớn lính ở Kinh thành quê quán Bình Định đến An Lão “bình Man”. bao gồm “vệ tả bảo nhất, tả bảo nhị, vệ tiền phong hữu, đều là người ở đấy, am hiểu kỹ nghệ của người Man đã lâu, chọn phái hơn 400 người đi đánh[26] nhờ vậy kịp thời trấn áp các cuộc nổi dậy. Năm 1876, nhà Nguyễn cho hợp 2 quân thứ tĩnh Man ở Bình Định, Quảng Ngãi làm quân thứ Ngãi - Định, tăng cường lực lượng đồn trú và canh phòng. Do vậy đã duy trì sự ổn định ở vùng miền núi An Lão đến trước khi phong trào Cần Vương bùng nổ năm 1885.
Như vậy, dưới triều Nguyễn, đồng bào vùng đất An Quang nói riêng, huyện An Lão nói chung thường xuyên đứng dậy đấu tranh chống áp bức, bóc lột, bất công, đòi lại những quyền lợi thiết thực cho họ; có tác dụng thúc đẩy sự phát triển xã hội, buộc triều Nguyễn phải thực thi những chính sách tiến bộ.
- Đấu tranh chống thực dân phong kiến từ 1885 đến 1930
Ngày 01/9/1858, thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược nước ta. Nhà Nguyễn từ chỗ chống cự yếu ớt rồi từng bước đi đến đầu hàng và chấp nhận sự thống trị của thực dân Pháp, thông qua hai hiệp ước Hác-măng (1883) và Pa-tơ-nốt (1884). Tuy vậy, phái chủ chiến trong triều đình đứng đầu là Tôn Thất Thuyết và đại đa số nhân dân vẫn quyết tâm đánh Pháp. Đêm ngày 4 rạng ngày 5/7/1885, Tôn Thất Thuyết chủ động đánh Pháp, nhưng thất bại. Ông ra lệnh phò vua Hàm Nghi xuất môn ra Tân Sở. Ngày 13/7/1885, Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, kêu gọi nhân dân cả nước đứng lên chống giặc, làm dấy lên phong trào Cần Vương cứu nước diễn ra ở khắp nơi.
Hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, dưới sự lãnh đạo của các văn thân sĩ phu yêu nước, nhân dân khắp nơi nổi dậy đấu tranh. Ở Bình Định, nhân dân liên kết với nhau dưới ngọn cờ Cần Vương của Đào Doãn Địch, Mai Xuân Thưởng đứng lên chống Pháp, trong số đó có sự tham gia của đồng bào các dân tộc ở miền núi An Lão. “Trong hàng ngũ nghĩa quân không chỉ có người Kinh mà còn có các đồng bào dân tộc ít người tham gia; có đến hàng nghìn người H’rê ở An Lão, Ba Tơ, Trà Bồng cầm vũ khí chiến đấu[27].
Tháng 12/1885, nghĩa quân Bình Định do Bùi Điền, Tăng Doãn Văn,... cùng nghĩa quân của Nguyễn Bá Loan (Quảng Ngãi), với sự hỗ trợ của đồng bào H’rê các làng ở An Lão bao vây đồn Lão Thuộc[28] (thôn An Đỗ, xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn). Quan trấn giữ lúc bấy giờ là Đề đốc Đinh Hội, Lãnh binh Vũ Lâm... đã mở cửa đồn, kéo quân xin gia nhập. Từ thời điểm này, người H’rê ở An Lão hưởng ứng và theo nghĩa quân Cần Vương ngày càng đông.
Tiếp theo, nghĩa quân Cần Vương Bình Định phối hợp với nghĩa quân Cần Vương Quảng Ngãi, liên tục đánh phá lực lượng tay sai của Pháp là Sơn phòng sứ Nguyễn Thân, tập kích nhiều đồn, huyện đường ở Quảng Ngãi. Tháng 2/1886, từ đồn Lão Thuộc nghĩa quân Cần Vương do Tăng Doãn Văn chỉ huy tiến ra đánh chiếm các đồn Thanh Thủy, Thường An (Tây Quảng Ngãi), hỗ trợ cho các cánh quân khác chiếm huyện đường Đức Phổ. Tháng 8/1886, nghĩa quân từ đồn Lão Thuộc phối hợp với các cánh quân khác ở Quảng Nam, Quảng Ngãi đánh huyện đường Bình Sơn. Tham gia cuộc tấn công này, có sự tham gia của đồng bào dân tộc H’rê ở An Quang.
Nhờ có sự phối hợp giữa lực lượng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và sự hỗ trợ của đồng bào H’rê ở An Lão và miền núi Quảng Ngãi, gây cho lực lượng Nguyễn Thân nhiều tổn thất. Vì vậy, từ cuối 1885 đến cuối 1886, lực lượng tay sai của Pháp do Nguyễn Thân cầm đầu, không có thời gian và lực lượng để tấn công vào Bình Định. Trung tá Pháp là Dumas, thừa nhận sự thất bại của Nguyễn Thân ở Quảng Ngãi do: “gặp phải lực lượng kháng chiến từ Bình Định đến và sự xâm nhập của dân chúng miền núi”[29]. Cho đến khi phong trào Cần Vương ở Bình Định kết thúc (6/1887), đồng bào H’rê ở An Lão, tiếp tục phối hợp với nghĩa quân Cần Vương đồn Lão Thuộc, chiến đấu chống lại các cuộc tiến đánh của lực lượng tay sai Pháp do Nguyễn Thân chỉ huy. Điển hình là cuộc chiến đấu vào tháng Giêng năm Đinh Hợi (tháng 2/1887), mặc dù nghĩa quân thất bại, nhưng qua đó chứng tỏ tinh thần yêu nước của đồng bào H’rê ở An Lão và vùng núi Quảng Ngãi.
Đầu thế kỷ XX, sau khi bình định khu vực đồng bằng, thực dân Pháp bắt đầu chiếm đất, lập đồn điền, với tay cai trị trực tiếp đến đồng bào dân tộc miền núi ở Bình Định. Năm 1900, Pháp lập đồn An Lão trực thuộc Tòa Khâm sứ Quy Nhơn để quản lý các làng H’rê về mặt hành chính, an ninh, thu thuế, Chúng chia vùng núi An Lão thành 5 châu gồm: Hoài Dân, Hoài Đốc, Hoài Chánh, Hoài Hóa và Hoài Trường. Ở một châu có một thuộc trưởng (người Kinh), năm thuộc trưởng của năm châu này dưới quyền một quản đốc ngũ châu. Xây dựng ở An Lão một đại đội lính khố xanh dưới sự chỉ huy của một tên đồn trưởng người Pháp để khống chế, kiểm soát.
Song song với việc thiết lập bộ máy cai trị, thực dân Pháp còn thi hành chính sách thuế cực kỳ tàn bạo đối với đồng bào dân tộc H’rê ở miền núi An Lão như triệt để đánh thuế các mặt hàng thiết yếu (muối, lâm thổ sản), thu thuế sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, trao đổi hàng hóa... Ngoài ra, đồng bào còn phải đóng thuế thân, sưu dịch liên miên như ngũ nhật công ích, xây đồn đắp lũy, làm đường... bị ép đi lính cho chúng. Thực hiện chính sách “chia để trị”, thực dân Pháp sử dụng nhiều thủ đoạn nhằm cô lập đồng bào, ngăn cản sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các làng, giữa đồng bào với người Kinh, duy trì và khuyến khích các tập tục lạc hậu...
Dưới sự cai trị của Pháp và chính quyền phong kiến tay sai, đời sống của đồng bào H’rê ở An Quang nói riêng, An Lão nói chung rơi vào tình trạng khó khăn, đói khổ, cùng cực, mâu thuẫn giữa đồng bào với chế độ thực dân phong kiến ngày càng gay gắt. Không cam chịu ách áp bức bóc lột, đồng bào ở đây tiếp tục nổi dậy đấu tranh. Tiêu biểu như năm 1903, đồng bào H’re ở An Lão và Quảng Ngãi đứng lên chống Pháp; giám binh Haguet (Ha-ghê) cùng viên đội Founé (Phu-nê) mang quân đi đàn áp.
Năm 1908, đồng bào khu vực An Quang tham gia hưởng ứng phong trào Duy Tân và phong trào chống sưu thuế ở Bình Định. Tại An Lão, dưới sự chỉ huy của Hoàng Văn Chùy và Nguyễn Văn Tính quê quán làng Xuân Phong (An Hòa), đồng bào H’rê ở An Quang và các làng xung quanh cùng hào mục Đốc Tiềm, dẫn khoảng 100 tráng đinh, võ trang bằng giáo mác, tập kích đồn An Lão, bắt sống đồn trưởng người Pháp nhưng không thành; cả Đốc Tiềm, Hoàng Văn Chùy và Nguyễn Văn Tính đều bị bắt. Về sự kiện này, Châu bản triều Nguyễn ngày 15 tháng 5 năm Duy Tân thứ 2 (tức ngày 13/6/1908) ghi chép như sau: “Đốc Tiềm là phái viên của quan quý Phó sứ nã giải, hiện đương giam cứu, mà bọn ấy lại giám tụ Đảng giải phóng, quả là toàn mưu lạ. Còn thuế đinh, thuế điền thì nhà nước có phép thường, há nên cậy đông người, bức bách quan trên, hồ hành như vậy, thật là bất pháp, bị quan quân đánh đuổi, còn cầm giáo chỉ huy tụi chúng. Vậy xin chiếu theo luật đều xử trảm quyết... Còn Hoàng Văn Chùy, Nguyễn Văn Tính làm càn, xúi giục người nổi loạn, chiếu theo điều lệ, khích biến lương dân, xử tội vi tùng, đầu xử giảo giam hậu”[30].
Cuộc nổi dậy tuy thất bại nhưng có tác động tích cực đến phong trào đấu tranh của người dân An Quang và các làng khác ở khu vực miền núi An Lão; nhiều cuộc đấu tranh chống sưu thuế, bắt lính tiếp tục diễn ra góp phần làm thất bại âm. mưu của chúng trong việc chiếm đồng Vuông lập đồn điền. Đối phó với phong trào đấu tranh của đồng bảo, thực dân Pháp. tăng cường lùng sục, bắt bớ, tăng cường bộ máy cai trị, đàn áp và tiến thêm một bước trong việc cô lập các làng. Chúng bạn. hành các lệnh cấm buôn bán giữa thương nhân người Kinh với đồng bào ở bản làng vùng cao. Đồn trưởng An Lão đưa ra quy định lính đồn bắt được người Kinh nào có quan hệ buôn bản với đồng bào vùng cao sẽ phạt tù từ 6 tháng đến 2 năm, phạt tiền từ 60 đồng đến 240 đồng.
Những thủ đoạn của thực dân Pháp và phong kiến tay sai làm cho đời sống của đồng bào thêm cơ cực, cảnh “đói cơm lạt muối” thường xuyên đe dọa. Không lùi bước, năm 1911, đồng bào An Quang tiếp tục cùng với đồng bào H'rê ở Quảng Ngãi đánh Pháp, vùng núi An Lão trở thành căn cứ cho cuộc đấu tranh. Từ năm 1911 đến 1920, đồng bào dân tộc H'rê ở An Quang và An Lão vẫn sát cánh bên nhau, bằng các loại vũ khí thô sơ như mang cung, bẫy đá, dao rựa... liên tục nổi dậy với nhiều hình thức như lấp đường, chống Pháp thu thuế, không cho thuộc trị, dời làng vào sâu, chạy làng, thanh niên trai tráng đều trốn vào rừng rẫy chống bắt sưu, bắt lính. ... Nhận xét về phong trào đấu tranh của đồng bào H'rê đầu thế kỷ XX, nhà nghiên cứu Toan Ánh khẳng định: “Phong trào đấu tranh của đồng bào thượng ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định khi lên khi xuống, khi mạnh khi yếu, nhưng không bao giờ bị dập tắt”[31]. Hoạt động đấu tranh này, thúc đẩy phong trào yêu nước ở An Lão nói riêng và Bình Định nói chung phát triển trong những năm tiếp theo.
Trong bối cảnh đất nước rơi vào khủng hoảng về đường lối đấu tranh, năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước đúng đắn - con đường cách mạng vô sản. Những năm 1921 - 1924, Người vừa hoạt động cách mạng vừa tìm cách truyền bá những tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước. Cuối năm 1924, Người về Quảng Châu (Trung Quốc) tiếp xúc với những tổ chức của người Việt Nam yêu nước tại đây và thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (6/1925). Người mở các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ cách mạng đầu tiên của Việt Nam để đưa về nước lãnh đạo phong trào cách mạng, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị các điều kiện để tiến tới thành lập chính Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam.
Ở Bình Định, một số chí sĩ yêu nước sớm tiếp thu và giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin. Tháng 3/1928, tại thôn Cửu Lợi (xã Tam Quan Nam, huyện Hoài Nhơn hiện nay), đại diện Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam Kỳ thành lập Chi hội đầu tiên của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên của Bình Định. Từ thời điểm này đến năm 1930, một số thanh niên yêu nước ở An Lão ra sức tiếp thu, tuyên truyền đường lối cách mạng của Hội ở địa phương.
Như vậy, dưới ách thống trị của thực dân Pháp và chính quyền phong kiến tay sai, đời sống của đồng bào An Quang rơi vào tình trạng lầm than cơ cực. Chúng xác lập, tăng cường, củng cố bộ máy cai trị, ra sức nắm chặt các làng, thực hiện chính sách tô thuế và bóc lột nặng nề, bố trí lực lượng quân sự, sẵn sàng đàn áp các phong trào đấu tranh. Song, những chính sách nham hiểm và thâm độc đó, vân không khuất phục được đồng bào, phát huy truyền thống đấu tranh chống áp bức, nhân dân An Quang không ngừng thắp lên ngọn lửa đấu tranh, tạo cơ sở cho bước chuyển biến mới của phong trào dưới sự lãnh đạo của Đảng trong những năm 1930 - 1945.
- Phong trào cách mạng từ năm 1930 đến năm 1945
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đây là sự kiện có ý nghĩa bước ngoặt đối với cách mạng Việt Nam. Tại tỉnh Bình Định các chi bộ cộng sản lần lượt được thành lập như Chi bộ Nhà máy đèn Quy Nhơn; Chi bộ Cửu Lợi, Hoài Nhơn; Chi bộ Vạn Đức, Hoài Ân...
Trong thời gian 1930 - 1931, do chưa nhận được sự hỗ trợ của Chi bộ Cửu Lợi và Chi bộ Vạn Đức, nên phong trào cách mang ở An Lão nói chung, An Quang nói riêng chưa có những hoạt động đấu tranh ủng hộ phong trào cách mạng 1930 - 1931 và Xô viết Nghệ Tĩnh. Tuy vậy, đồng bào An Quang vẫn có những cuộc đấu tranh chống lại các chính sách áp bức bóc lột của Pháp và tay sai, chống sưu cao thuế nặng, bắt lính...
Cuối năm 1931 và năm 1932, thực dân Pháp và tay sai liên tiếp mở các cuộc khủng bố ác liệt tại Hoài Nhơn, Hoài Ân, cách mạng bị tổn thất nặng nề, nhiều đảng viên bị bắt[32]. Từ 1933 đến 1935, cách mạng Hoài Ân, Hoài Nhơn từng bước phục hồi và phát triển, các đảng viên bị bắt đã ra tù, nhanh chóng móc nối và khôi phục lại cơ sở Đảng, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh địa phương và vùng miền núi An Lão.
Căn cứ vào tình hình thế giới và trong nước trong những năm 1936 - 1939, Đảng ta xác định kẻ thù trước mắt nguy hại nhất của nhân dân Đông Dương cần tập trung đánh đổ là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng. Về nhiệm vụ trước mắt của cách mạng là chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Chuyển hình thức tổ chức bí mật không hợp pháp sang các hình thức tổ chức và đấu tranh công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp.
Trong thời gian này tại các làng Hưng Nhơn, Thanh Sơn, Thuận Hòa, An Lão, Vạn Long, Xuân Phong (thuộc An Hòa, An Tân ngày nay) diễn ra nhiều hoạt động đấu tranh ủng hộ phong trào Đông Dương đại hội, đấu tranh đòi cải cách dân chủ, chống tăng thuế... thu hút nhiều quần chúng tham gia... Tuy chưa có điều kiện để tiếp thu các chủ trương đấu tranh của Đảng, tiến hành đấu tranh như các xã vùng thấp, song các cuộc đấu tranh này cũng có ảnh hưởng tích cực đến tinh thần đấu tranh của đồng bào An Quang.
Năm 1937, dưới sự lãnh đạo của Đinh Nghét, đồng bào khu vực xã An Quang đã tập hợp và kéo về đồn An Lão tiến hành đấu tranh chống lại việc nộp sưu, nộp thuế nhưng sự việc không thành, cuối cùng ông bị bắt và bị chém đầu. Mặc dù các phong trào đấu tranh thất bại nhưng tinh thần của đồng bào các dân tộc ở An Quang nói riêng, An Lão nói chung không hề lắng xuống mà ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn.
Từ năm 1938 - 1940, đồng bào An Quang còn tham gia phong trào Nước xu đỏ (‘Nước thần”) của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Bắc Tây Nguyên (xuất phát từ Tây Phú Yên). Nội dung chính của phong trào là chống sưu, chống thuế, chống áp bức của thực dân Pháp, giành quyền làm chủ núi rừng. Phong trào Nước xu đỏ lúc đầu nổi lên mạnh mẽ ở khu vực miền núi Phú Yên, Nam Bình Định, lan tỏa lên Tây Nguyên rồi phát triển xuống vùng núi Quảng Ngãi và Bắc Bình Định. Sau khi đón được “Nước thần” về làng (1938 - 1941), đồng bào ở đây dấy lên phong trào đấu tranh chống sưu thuế, chống bắt lính và đặc biệt là bất hợp tác với Pháp... Năm 1941, thực dân Pháp cho lính từ đồn An Lão càn quét vào vùng đất các làng dọc sông Đinh để đàn áp, tiêu diệt, nhưng đồng bào nhanh chóng di chuyển vào rừng ẩn nấp, địch chỉ bắt một số gà, heo,...
Cuối năm 1944 đầu năm 1945, chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn cuối; phát xít Đức liên tiếp bị thất bại, Hồng quân Liên Xô tiến như vũ bão về phía Béc-lin, thành trì cuối cùng của phát xít Đức đứng trước nguy cơ thất thủ. Ở mặt trận Châu Á Thái Bình Dương, phát xít Nhật cũng rơi vào tình trạng khốn đốn. Trước tình hình đó, nhằm loại trừ kẻ thù trước mắt, tránh nguy cơ bị đánh sau lưng, đêm ngày 9/3/1945, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông Dương, thực dân Pháp chống cự yếu ớt và đầu hàng.
Ở Bình Định và An Lão, thực dân Pháp nhanh chóng đầu hàng, quân Nhật chiếm giữ các cơ quan, công sở, đồn bốt của Pháp. Sau khi lật đổ chính quyền Pháp và làm chủ Bồng Sơn, theo đường bộ, quân Nhật tiến lên chiếm đồn An Lão. Đồn trưởng An Lão có tên là Đề-nông vội vàng tháo chạy qua vùng Nước Xáng thuộc An Quang rồi tìm đường thoát về Quy Nhơn, đồn An Lão rơi vào tay quân Nhật. Quân Nhật huy động 50 lính khố xanh đóng giữ, bảo vệ đồn An Lão, do Quipze-vingt-et-un (Căng-vanh Tê-on) đứng đầu.
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở Bình Định nói chung, An Lão nói riêng có nhiều chuyển biến quan trọng. Nhật vừa sử dụng bộ máy tay sai của Pháp, vừa xây dựng đội ngũ tay sai mới, đẩy mạnh phong trào bài Pháp, kích động nhân dân chống Pháp và một số tay sai thân cận của Pháp như quan lại, cường hào nhằm đánh lạc hướng phong trào đấu tranh của nhân dân. Chúng ra sức vơ vét lương thực, thóc gạo, vải sợi của dân. ..
Giữa tháng 4/1945, tại Hoài Mỹ (Hoài Nhơn), Ủy ban Vận động cứu quốc Bình Định được thành lập, chủ trương phát triển Việt Minh ở tỉnh, vận động lôi kéo nhân dân vào Việt Minh, thành lập các đoàn thể cứu quốc, tiến tới thành lập Ủy ban Vận động cứu quốc từ xã lên huyện. Cuối tháng 4/1945, Ủy ban Vận động cứu quốc huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân được thành lập. Ngày 15/6/1945, tại Trường An (Hoài Thanh, Hoài Nhơn), Ủy ban Vận động cứu quốc tỉnh họp, do đồng chí Trần Lương chủ trì. Hội nghị chủ trương mạnh dạn sử dụng các hình thức tuyên truyền để công khai giới thiệu các chính sách của Mặt trận Việt Minh, tích cực xây dựng các đội tự vệ, các đoàn thể cứu quốc... Hội nghị phân công đồng chí Phan Mão phụ trách tổng Hoài Đức, có nhiệm vụ vận động, tuyên truyền các chính sách của Mặt trận Việt Minh, giác ngộ, lôi kéo quần chúng tham gia Việt Minh, tham gia phong trào đấu tranh cách mạng, chuẩn bị lực lượng cách mạng, để tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở An Lão.
Theo đó, đồng chí Phan Mão đã khéo léo cải trang thành người bán muối, thợ cắt tóc, làm vườn, đan đát... để thâm nhập, giác ngộ một số quần chúng tiến bộ như Tăng Xuân Mai, Đoàn Thị Lê, Nguyễn Ngọc Thành, Nguyễn Chại... cũng như một số già làng, chánh tổng, đồng bào ở vùng cao thông qua hoạt động buôn bán trầu, cau, hồ tiêu[33]... Dựa vào các hạt nhân đầu tiền như Tăng Xuân Mai, Nguyễn Ngọc Thành, Nguyễn Chại (Xuân Phong, An Hòa), đồng chí Phan Mão đã xây dựng mở rộng phong trào Việt Minh đến các làng vùng cao của đồng bào H’rê ở An Lão.
Tháng 8/1945, Việt Minh phát triển ở nhiều làng thuộc huyện An Lão. Đặc biệt, tại các vùng thấp như Xuân Phong, An Lão, Vạn Long, Long Hòa, Hưng Nhượng, phong trào Việt Minh phát triển mạnh; các đoàn thể cứu quốc... được thành lập, thu hút đông đảo quần chúng tham gia; trên cơ sở đó, các đội “tự vệ sắt” thành lập, gồm những hội viên khỏe mạnh, hăng hái, tích cực của Thanh niên cứu quốc, Nông dân cứu quốc... Nhiều quan chức địa phương của chính quyền tay sai, thanh niên trong tổ chức Phan Anh giác ngộ về với cách mạng... Tại các làng An Cư, An Mỹ, An Hậu, An Nghĩa,... cũng hình thành cơ sở Việt Minh, đồng bào H’rê sẵn sàng tham gia phong trào cách mạng, chuẩn bị nổi dậy theo tiếng gọi của Việt Minh. Phong trào cách mạng ở An Quang nói riêng, An Lão nói chung phát triển sang một giai đoạn mới, giai đoạn tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền theo mệnh lệnh của Đảng và Việt Minh.
Trước sự phát triển nhanh chóng của tình hình, ngay đêm 13/8/1945, Trung ương Đảng ra Quân lệnh số 1 về Tổng khởi nghĩa. Trong 2 ngày (14 và 15/8/1945), Hội nghị toàn quốc của Đảng diễn ra tại Tân Trào (Tuyên Quang), nhận định: Cơ hội rất tốt cho ta giành chính quyền, độc lập đã tới và quyết định phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai, trước khi đồng minh vào Đông Dương. Ngày 16 và 17/8/1945, cũng tại Tân Trào, Đại hội quốc dân họp tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, quyết định thành lập Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam. Ngay sau Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Ngày 18/8/1945, Ủy ban Vận động cứu quốc tỉnh tổ chức cuộc họp bất thường, do đồng chí Trần Lương chủ trì. Hội nghị nhận định tình hình, chuẩn bị và từng bước tiến hành khởi nghĩa ở những nơi có điều kiện thuận lợi. Tại Hoài Nhơn và Hoài Ân, Ủy ban Vận động cứu quốc chuyển thành Ủy ban Khởi nghĩa, trên cơ sở nhận định tình hình địch, tiến hành tổ chức biểu tình, thị uy lực lượng, chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng phát động quần chúng khởi nghĩa. Không khí cách mạng Ở Hoài Ân, Hoài Nhơn thúc đầy điều kiện khởi nghĩa ở An Lão chín muồi.
Ngày 23/8/1945, dưới sự lãnh đạo của các đồng chí Phan Mão, Tăng Xuân Mai... và các tổ chức Việt Minh, nhân dân các làng An Cư, An Hậu, An Mỹ cùng với các làng thuộc huyện An Lão vùng dậy khởi nghĩa, bộ máy chính quyền tay sai ở tổng Hoài Đức nhanh chóng tan rã, Việt Minh đã nắm chính quyền ở cấp cơ sở, tạo điều kiện cho nhân dân các dân tộc An Lão vùng lên bao vây, đánh chiếm đồn An Lão, giành chính quyền trên toàn huyện.
Sau khi chính quyền cách mạng ở cấp tổng, đồn An Lão vẫn do lính Nhật chiếm giữ. Các đồng chí lãnh đạo Việt Minh huy động quần chúng các làng với giáo mác, gậy gộc, cung, ná,... cùng đội tự vệ sắt kéo về bao vây đồn An Lão, hô vang các khẩu hiệu “đả đảo phát xít Nhật”, “ủng hộ Mặt trận Việt Minh”, vừa đánh cồng chiêng vừa uy hiếp tinh thần địch. Đại diện chính quyền cách mạng, đồng chí Tăng Xuân Mai kêu gọi binh lính trong đồn hãy buông súng đầu hàng, một số cuộc thương thuyết đã diễn ra nhưng không có kết quả, địch vẫn cố thủ, chưa chịu giao đồn cho chính quyền cách mạng, đến ngày thứ năm, quần chúng cách mạng vẫn tiếp tục bao vây đồn.
Sáng 24/8/1945, ở Hoài Ân, Ủy ban Khởi nghĩa đột nhập huyện đường, buộc viên tri huyện bàn giao chính quyền cho Việt Minh. Tại Hoài Nhơn, ngày 27/8/1945 Ủy ban Khởi nghĩa đã huy động quần chúng cướp chính quyền ở Tam Quan. Ngày 29/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa Hoài Nhơn tổ chức quần chúng ở các tổng phía Nam của huyện kéo về bao vây Bồng Sơn. Trước khí thế cách mạng sục sôi viên tri phủ Hoài Nhơn xin đầu hàng, giao nộp chính quyền và nộp toàn bộ hồ sơ, con dấu và bản kiểm kê tài sản cho chính quyền cách mạng. Cùng ngày lực lượng tự vệ đã tước khí giới của bọn địch ở Bồng Sơn.
Thắng lợi của khởi nghĩa giành chính quyền ở Hoài Ân, Hoài Nhơn càng làm sôi nổi khí thế cách mạng ở An Lão. Để hỗ trợ cho việc chiếm đồn An Lão, Việt Minh phủ Ái (Hoài Nhơn) đã phân công đồng chí Lâm Trường Sanh cùng một đồng chí khác từ Bồng Sơn lên An Lão phối hợp với tự vệ sắt và người dân địa phương bao vây đồn. Trước khí thế cách mang và sự áp đảo của quần chúng, viên đồn trưởng buộc phải bàn giao đồn An Lão cùng 45 khẩu súng trường, 3 khẩu súng lục, đạn dược và toàn bộ tài sản cho cách mạng.
Như vậy, từ ngày 23 đến 30/8/1945, đồng bào các dân tộc ở vùng đất An Quang nói riêng, An Lão nói chung lần lượt nổi dậy khởi nghĩa, đập tan toàn bộ hệ thống chính quyền thực dân phong kiến. Chính quyền cách mạng lâm thời từ làng đến tổng được thành lập, quần chúng nhân dân các dân tộc hoàn thành nhiệm vụ mà lịch sử giao phó và chuẩn bị bước vào xây dựng cuộc sống mới.
Hòa cùng khí thế cách mạng sôi nổi trong cả nước, nhân dân An Quang, huyện An Lão dưới sự lãnh đạo của Việt Minh đã vùng lên với khí thế mãnh liệt, góp phần lật đổ toàn bộ chính quyền thực dân, phong kiến tồn tại bấy lâu, thành lập chính quyền dân chủ nhân dân. Đồng bào các dân tộc thoát khỏi cảnh đời nô lệ, tối tăm, cực khổ, bị áp bức bóc lột,... họ thực sự trở thành người chủ quê hương, bản làng, nương rẫy của mình, được sống bình đẳng, độc lập, tự do với các dân tộc anh em. Đó thực sự là một sự đổi đời chưa từng có trong lịch sử.
Cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra và thắng lợi trong lúc ở địa phương chưa có tổ chức cơ sở Đảng chính thức, song dưới tác động của phong trào cách mạng ở hai huyện Hoài Ân và Hoài Nhơn, từ tháng 5/1945 ở An Lão đã có sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh. Dưới sự lãnh đạo của Việt Minh, đồng bào các dân tộc vùng đất An Quang, huyện An Lão đã tiếp thu đường lối, chủ trương của Đảng, phát huy truyền thống đoàn kết đấu tranh chống áp bức, chống xâm lược, vùng dậy tham gia giành chính quyên một cách kịp thời và nhanh chóng, hòa nhịp cùng với cao trào Tổng khởi nghĩa trong toàn tỉnh và cả nước.
An Quang xã miền núi huyện An Lão, nơi có đồng bào dân tộc H’rê, Bana sinh sống từ lâu đời. Địa hình hiểm trở, nhiều núi cao, rừng rậm, sông suối, nơi đây trở thành điểm đóng quân an toàn của các lực lượng cách mạng. qua quá trình lịch sử, cộng đồng cư dân các dân tộc nơi đây luôn kiên cường, dũng cảm trong đấu tranh, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, xây dựng nên những truyền thống tốt đẹp của quê hương. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, An Quang là một trong những căn cứ địa cách mạng quan trọng của tỉnh Bình Định.
Giao thông đi lại khó khăn, đất đai ít màu mỡ, song bù lại An Quang có ưu thế để phát triển rừng, với nguồn lâm thổ sản phong phú. Đồng bào H’rê cư trú ở đây khá lâu đời, họ tụ cư xung quanh các “con nước”, hình thành các thôn làng tập trung, lấy kinh tế nông nghiệp trồng lúa làm chủ đạo, bên cạnh đó họ còn phát triển chăn nuôi, các nghề thủ công và khai thác sản vật rừng... Hoạt động kinh tế này không những góp phần nuôi sống cộng đồng tộc người đông đúc qua hàng thế kỷ, mà còn tạo ra nhiều mặt hàng để trao đổi với vùng đồng bằng. Trải qua quá trình sinh sống lâu dài, đồng bào An Quang cũng tạo nên những nét văn hóa đặc sắc, góp phần làm phong phú nền văn hóa của dân tộc H’rê nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.
Không chỉ cần cù trong lao động, giản dị trong lối sống, từ sớm đồng bào H’rê ở An Quang cũng vùng lên đấu tranh chống áp bức cường quyền, chống giặc ngoại xâm. Ở thế kỷ XVIII, họ góp phần tham gia phong trào Tây Sơn; dưới triều Nguyễn, đồng bào nhiều lần nổi dậy đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Khi đất nước rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp, đồng bào tiếp tục tham gia phong trào Cần Vương, đến hưởng ứng phong trào chống sưu thuế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào An Quang nhất tề đứng dậy theo tiếng gọi của Mặt trận Việt Minh, xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến ở địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, góp phần làm nên thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Truyền thống yêu nước, cách mạng và những ưu thế của vùng đất và con người An Quang là những yếu tố quan trọng, tạo cơ sở cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ở đây kế thừa, phát huy và tiếp tục giành được những thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) và chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội từ năm 1975 đến năm 2015.
Chương II
AN QUANG TRONG HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG KẺ THÙ XÂM LƯỢC (1945 - 1975)
- AN QUANG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 - 1954)
- Xây dựng chính quyền cách mạng, chăm lo đời sống cho nhân dân và tổ chức lực lượng kháng chiến (1945 - 1949)
Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Tuy nhiên, vừa mới giành được độc lập, đất nước lại đứng trước tình thế “nghìn cân treo sợi tóc”. Trong bối cảnh chung của cả nước và của tỉnh Bình Định, vùng đất An Quang nói riêng, An Lão nói chung gặp không ít khó khăn. Địa hình hiểm trở, đất đai khô cằn, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều bất lợi. Các ngành nghề thủ công truyền thống như rèn, dệt vải... được duy trì nhưng mang tính nhỏ lẻ, phục vụ tại chỗ. Mặt khác, do chế độ phong kiến duy trì khá lâu, đặc biệt là do sự bóc lột của thực dân Pháp, phát xít Nhật nên đời sống của đồng bào cực khổ. Nạn đói, nạn dốt hoành hành, tình hình an ninh chưa được ổn định... Bên cạnh đó, sau Cách mạng tháng Tám 1945, vùng đất An Quang cũng có một số thuận lợi như là vùng tự do, chính quyền cách mạng lâm thời được thành lập, đồng bào được cởi bỏ khỏi ách nô lệ, phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền cách mạng, tích cực thực hiện những nhiệm vụ của cuộc kháng chiến kiến quốc.
Trước hết, sự nghiệp cách mạng ở An Quang cần tập trung là xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng và khối đoàn kết dân tộc. Đối với huyện An Lão nói riêng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định nói chung do hậu quả của lịch sử để lại, với những đặc điểm riêng cho nên sau Cách mạng tháng Tám 1945, việc xây dựng chính quyền mới ở đây gặp nhiều khó khăn. Nhận thức được vấn đề đó, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Bình Định cử một số cán bộ người Kinh lên công tác vùng đồng bào dân tộc thiểu số làm công tác “Thượng du vận”. Tại huyện An Lão những cán bộ “Thượng du vận” đã triệu tập đồng bào các dân tộc tổ chức lễ “Đoàn kết” tại bãi Bà Nà, thôn Hóc Quăng (thuộc xã An Trung hiện nay). Đồng bào các dân tộc H’re, Bana, Kinh ở vùng miền núi An Lão, trong đó có người dân An Quang cùng nhau ăn thề quyết tâm xóa bỏ chính quyền cũ, xây dựng chính quyền cách mạng, bài trừ nội phản và tiêu diệt giặc Pháp.
Nhờ sự hỗ trợ của lực lượng cán bộ này, công cuộc xây dựng, củng cố chính quyền ở An Quang nói riêng, huyện An Lão nói chung thu được nhiều thành quả quan trọng. Ở các làng thuộc vùng đất An Quang sau đó cũng lần lượt được thành lập chính quyền cách mạng lâm thời, do những già làng, những người có uy tín được dân làng bầu cử bằng biểu quyết công khai.
Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi, để bảo vệ và phát huy thành quả vừa giành được, một trong những nhiệm vụ tiên mà Chính phủ xác định là củng cố chính quyền, trước hết là tiến hành Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, thành lập Chính phủ cách mạng chính thức, xây dựng hệ thống chính quyền hợp pháp từ Trung ương đến địa phương. Thực hiện Sắc lệnh số 14/SL-CP ngày 8/9/1945 của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên trong cả nước và Sắc lệnh số 63/SL-CP ngày 22/11/1945 về tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp ở địa phương. Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Việt Minh tỉnh Bình Định tổ chức cho toàn thể nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của mình.
Ngày 23/12/1945[34], các cử tri vùng đất An Quang cùng nhân dân các địa phương trong cả nước nô nức đi bầu cử Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là lần đầu tiên, người dân An Quang được thực hiện quyền công dân của mình trong một xã hội thực sự tự do, dân chủ. Tiếp theo, ngày 17/2/1946, cử tri vùng đất An Quang tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Định. Thắng lợi của cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh khẳng định sự tin tưởng của đồng bào đối với sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Mặt trận Việt Minh.
Đầu năm 1946, thực hiện chủ trương của Chính phủ, tỉnh Bình Định tiến hành giải thể cấp tổng, hợp xã lần thứ nhất, từ 679 thôn, lập thành 212 xã. Ở các huyện miền núi có tổng cộng 165 làng thì nhập 138 làng thành 35 xã, còn 27 làng vẫn giữ nguyên[35]. Theo đó, các làng ở vùng đất An Quang vẫn chưa hợp xã được, thì “Huyện (Hoài Ân) chủ trương thành lập ủy ban cho từng làng, hoặc 2 - 3 làng. Mỗi ủy ban làng gồm có chủ tịch, phó chủ tịch và 1 ủy viên quân sự[36].
Tháng 4/1947, huyện An Lão được thành lập, cơ quan huyện An Lão đóng ở Đèo Cạnh (xã An Trung hiện nay). Giữa năm 1947, thực hiện Chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc của Đảng và Chính phủ, huyện An Lão thành lập Ủy ban Kháng chiến Tuy nhiên sau một thời gian hoạt động, sự song song tồn tại của hai ủy ban gây ra những khó khăn nhất định cho công tác “kháng chiến” và “kiến quốc”. Vì vậy, ngày 01/10/1947, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Sắc lệnh số 91/SL, quyết định hợp nhất Ủy ban Hành chính với Ủy ban Kháng chiến thành Ủy ban Kháng chiến hành chính, bao gồm 5 ủy viên hành chính, 1 ủy viên quân sự và 1 ủy viên nhân dân.
Năm 1949, Tỉnh ủy chủ trương giải thể huyện Kim Sơn, đưa các xã ở phía Bắc nhập vào An Lão, nâng số xã của huyện lên đến 18 xã với dân số là 4.059 người. Để tăng cường xây dựng chính quyền cách mạng, Huyện An Lão cử nhiều cán bộ về các bản làng vận động đồng bào tham gia thành lập chính quyền cách mạng ở làng, xã. Trong bối cảnh đó, các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu lần lượt được thành lập. Sau khi thành lập, đồng bào các xã An Cư, An Hậu và An Mỹ đoàn kết một lòng, khắc phục khó khăn, ra sức xây dựng và củng cố chính quyền Chính quyền cách mạng thực sự là chính quyền của nhân dân, thu hút được mọi người dân tham gia công tác kháng chiến, kiến quốc. Quần chúng nhân dân càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của chính quyền.
Mặt khác, trong thời gian đầu của kháng chiến chống Pháp, vùng đất An Quang nói riêng và địa bàn sinh sống của đồng bào các dân tộc ít người tỉnh Bình Định nói chung, ngoài sự quản lý nhà nước của Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp đặt dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, còn có một cơ quan chuyên trách theo dõi về vấn đề dân tộc thiểu số với 3 cấp khác nhau[37]. Tháng 8/1947, Phân phòng quốc dân thiểu số huyện An Lão được thành lập, góp phần quan trọng trong việc vận động đồng bào H'rê ở đây đoàn kết, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống, tham gia ủng hộ kháng chiến.
Cùng với công tác xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, tăng cường khối đoàn kết dân tộc, việc chăm lo đời sống cho đồng bào được Đảng và Chính phủ quan tâm với mục tiêu là xây dựng kinh tế tự túc bằng cách đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, giảm tô, giảm thuế, cải thiện đời sống nhân dân. Thực hiện Chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc của Chính phủ, các xã An Cư, An Hậu và An Mỹ phát động phong trào tăng gia sản xuất lúa gạo, hoa màu để phòng chống cứu đói. Những ruộng đất hoang, những khu đồi, dải đất đường đều được khai phá để trồng bắp, mì, lang. Đồng bào nhốt trâu bò trong chuồng, ruộng rẫy có rào chắn để phòng tránh thú rừng phá hoại, vận động cùng nhau làm rẫy, bón phân và làm cỏ cho ruộng, đắp đập đào mương. Nhờ thực hiện những chủ trương đó mà đời sống của đồng bào ngày càng khá hơn. Bên cạnh đó, được sự giúp đỡ, tiếp tế của cấp trên nên hạn chế được phần nào những khó khăn, thiếu thốn về vật chất, làm cho đồng bào ngày càng tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ.
Trong đợt thi đua yêu nước năm 1948 - 1949, nhân dân các xã An Cư, An Hậu và An Mỹ tích cực khai hoang mở rộng diện tích sản xuất, trồng ngô, sắn,... Ban Kinh - Thượng tiếp tế cho đồng bào lúa, muối, vải và một số quần áo, chiếu, nón, công cụ, gia súc, gia cầm; đồng thời tiêu thụ cho đồng bào các thứ cau khô, vỏ cây làm giấy, mật ong. Cùng với nông nghiệp, sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng được khuyến khích. Việc đan đát, kéo sợi, dệt khố,... được khôi phục nhằm đáp ứng nhu cầu về nông cụ sản xuất, sinh hoạt, ăn mặc.
Cùng với phong trào tăng gia sản xuất thì nhân dân cũng tự giác thực hiện ngày“đồng tâm” nhịn ăn, bớt bữa. Mỗi gia đình đều có“hũ gạo cứu đói”. Truyền thống đồng cam cộng khổ “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, đùm bọc lẫn nhau cũng được khơi dậy. Về tài chính, nhân dân các xã An Cư, An Hậu và An Mỹ tiếp tục hưởng ứng “tuần lễ vàng”, “tuần lễ đồng”, tuy sự đóng góp chưa nhiều nhưng đã thể hiện được tinh thần yêu nước, quyết tâm giữ vững nền độc lập và bảo vệ chính quyền cách mạng.
Phong trào xóa nạn mù chữ được phát động rộng rãi. Ở các xã An Cư, An Hậu và An Mỹ, các lớp bình dân học vụ được tổ chức ở các làng. Những người biết chữ tự nguyện hướng dẫn đồng bào chưa biết chữ không kế già, trẻ, gái, trai. Ai chưa biết chữ đều phải đi học. Điều kiện học tập còn nhiều khó khăn, thiếu giấy dùng lá chuối, bảng làm bằng ván gỗ, phấn thì dùng mì khô ngâm nước để viết,... Các lớp học tổ chức vào ban đêm, tuy chưa đều đặn nhưng nhờ sự hỗ trợ của các cán bộ “Thượng du vận” người Kinh, một số đồng bào Hrê ở An Cư, An Hậu và An Mỹ biết đọc, biết viết, biết đến nền giáo dục cách mạng, đặt cơ sở cho việc đẩy mạnh phong trào xóa mù chữ trong thời kỳ tiếp theo.
Cuộc vận động xây dựng đời sống mới được đồng bào hưởng ứng, đường sá sửa sang, nhà cửa được quét dọn, sắp xếp ngăn nắp, chuồng trâu, chuồng bò được bố trí xa nhà. Phong trào phòng dịch, phòng bệnh được đẩy mạnh, đa số người dân các làng đã có quần áo để mặc, thực hiện cắt tóc ngắn, thường xuyên tắm giặt, ăn bằng đũa, không còn ăn bốc, uống nước đun sôi. Nhờ đó mà bệnh dịch được ngăn ngừa. Việc mê tín, kiêng kỵ, cúng tế được giảm nhiều. Đồng bào biết sử dụng “thuốc nam” (cây rừng) trong chữa bệnh. Hoạt động văn hóa, văn nghệ góp phần tuyên truyền cổ vũ truyền thống đấu tranh cách mạng, đáp ứng phần nào yêu cầu hưởng thụ văn hóa của đồng bào. Các cuộc vận động lớn, phong trào xây dựng đời sống mới đem lại lợi ích rõ ràng, thiết thực cho đồng bào miền núi nên được đồng bào hưởng ứng và tự giác thực hiện.
Chính quyền cách mạng các làng thuộc xã An Quang cũng bắt tay ngay việc tổ chức lực lượng cho kháng chiến. Bởi vì, ngày 23/9/1945 quân Pháp nổ súng tấn công vào lực lượng tự vệ của cách mạng ở Sài Gòn, mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Sau đó không lâu, Pháp mở rộng xâm lược ra Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Tháng 6/1946, thực dân Pháp đánh Bắc Tây Nguyên. Ngày 25/6/1946, Pháp chiếm thị xã Pleiku và Kon Tum. Đầu tháng 7/1946, Pháp chiếm An Khê, xây dựng An Khê thành một căn cứ vững chắc làm bàn đạp tấn công vùng tự do Bình Định.
Để bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Tạm ước 14/9/1946. Thế nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới. Ngày 18/12/1946, Pháp gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta, đòi giải tán lực lượng tự vệ và chiến đấu, giao quyền kiểm soát Hà Nội cho chúng. Ngày 19/12/1946, thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, vùng tự do An Quang không bị địch chiếm đóng. Tuy nhiên là địa bàn gần với huyện Vĩnh Thạnh và Tây Nguyên - cửa ngõ của tỉnh Bình Định luôn bị địch uy hiếp, tìm cách đánh phá. Chính vì vậy, chuẩn bị kháng chiến, tổ chức cho nhân dân làm tốt bố phòng chống giặc, xây dựng lực lượng du kích trở thành yêu cầu cấp thiết của chính quyền và các đoàn thể cách mạng ở địa phương ngay từ những ngày đầu kháng chiến.
Bước sang năm 1947, cùng với việc hình thành Ủy ban Kháng chiến, công tác xây dựng lực lượng du kích chiến đấu ở các làng vùng đất An Quang càng được chú trọng. Hầu hết các làng đều thành lập các đội tự vệ chiến đấu. Mỗi đội viên được huấn luyện hai ngày với các nội dung như hướng dẫn sử dụng vũ khí, cách cắm cọc chông, chống địch nhảy dù, chống địch phá hoại bằng máy bay.
Đầu năm 1948 huyện đội An Lão được thành lập và xây dựng một tiểu đội dân quân thoát ly do Quỹ Vệ quốc đoàn đài thọ; thành phần đa số là đồng bào dân tộc thiểu số dưới sự phụ trách của người Kinh. Hoạt động chủ yếu của Tiểu đội này là cùng với Huyện đội tổ chức và huấn luyện dân quân cho các làng. Do đó, công tác xây dựng lực lượng vũ trang ở các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu có nhiều thuận lợi. Tháng 9/1949, huyện An Lão xây dựng một trung đội bộ đội địa phương. Được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang huyện, đội ngũ du kích chiến đấu của địa phương An Quang cũng được hình thành.
2. Tăng cường tiềm lực về mọi mặt, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi (1950 - 1954)
Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, một trong những nhiệm vụ cấp bách trước mắt của Tỉnh ủy lâm thời Bình Định là xây dựng hệ thống tổ chức Đảng từ tỉnh đến cơ sở để đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất. Tuy nhiên, từ năm 1948 trở về trước ở các xã miền núi của huyện An Lão hầu như chưa có cơ sở Đảng; vì vậy, vấn đề xây dựng, phát triển đảng viên ở đây được đặt ra cấp thiết. Nhờ sự tích cực tuyên truyền, giác ngộ của cán bộ, đảng viên người Kinh được Tỉnh ủy phân công quản lý công tác của huyện thì việc phát triển đảng viên mới ở đây ngày càng có kết quả. Tháng 4/1950, theo quyết định của cấp trên, Ban Cán sự Đảng huyện An Lão được thành lập và đến tháng 12/1950 thì huyện miền núi An Lão đã xây dựng được 6 chi bộ[38].
Theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, Đảng bộ huyện An Lão triệu tập Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ nhất (12/1950). Đại hội đề ra một số chủ trương mới: “Đẩy mạnh phát triển, củng cố tổ chức đảng ở cơ sở, xây dựng bộ đội huyện và dân quân xã vững mạnh, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế tự cấp, tự túc”[39]. Thực hiện chủ trương trên, Huyện ủy An Lão cử nhiều cán bộ, đảng viên về các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu đẩy mạnh phong trào cách mạng. Nhờ vậy, chính quyền và các đoàn thể ngày càng được củng cố, lực lượng vũ trang được tăng cường trang bị, luyện tập. Kinh tế tự túc ngày càng phát triển, nạn đói được khắc phục, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện, góp phần tăng cường tiềm lực đánh bại thực dân Pháp.
Trong thời gian này, trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, Liên Khu ủy V và các cấp bộ Đảng, chính quyền tỉnh Bình Định mở các hội nghị bàn về công tác dân tộc, miền núi; tiêu biểu là Hội nghị cán bộ Thượng vận toàn tỉnh lần thứ hai (1950)... Trước và sau hội nghị, chính quyền cách mạng có sự phân công chỉ đạo, hình thành các tổ chức, đưa cán bộ người Kinh cắm sâu vào vùng các dân tộc thiểu số, tuyên truyền vận động, giác ngộ chính trị, nâng cao nhận thức, hiểu biết về mọi mặt cho đồng bào các dân tộc Bana, H’rê... Tính riêng trong 2 năm (1949 - 1950), tỉnh Bình Định điều động hơn 100 cán bộ chính trị và chuyên môn lên hỗ trợ cho 3 huyện miền núi... Riêng năm 1950 là 25 cán bộ, đảng viên lên huyện An Lão[40].
Được sự hỗ trợ của cán bộ người Kinh, công tác xây dựng bộ máy chính quyền cấp xã, cấp làng ở An Quang diễn ra thuận lợi hơn và đạt được nhiều thành tựu, cơ cấu tổ chức, cách thức, phương pháp làm việc ngày càng hoàn thiện... Địa phương không những tập hợp được quần chúng vào các đoàn thể, đẩy mạnh công tác kháng chiến mà còn xây dựng trụ sở hành chính xã với các phòng tiếp dân, các bộ phận chuyên môn, nơi cất giữ hồ sơ, có ủy viên thư ký thường trực. Nhờ vậy chính quyền cách mạng ở An Cư, An Mỹ và An Hậu từng bước tổ chức thực hiện thành công nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vùng tự do.
Đến năm 1950, hầu hết các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu đều thành lập xã đội; lực lượng du kích ở đây được trang bị vũ khí, có cả súng, lựu đạn ba càn, và họ được kinh qua huấn luyện, tập sử dụng những loại vũ khí thô sơ sẵn có thích hợp với hoàn cảnh địa phương như mang cung, bẫy ná, hầm chông, cạm chông...
Cuối năm 1950, cuộc kháng chiến của nhân dân ta giành được nhiều thắng lợi to lớn có tính bước ngoặt. Thực dân Pháp liên tiếp bị thất bại, để kéo dài và mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược, chúng phải nhận viện trợ từ đế quốc Mỹ. Trong số các tỉnh thuộc vùng tự do Liên Khu V, Bình Định tiếp tục bị thực dân Pháp tập trung đánh phá ác liệt. Tại các xã An Cư An Mỹ và An Hậu, thực dân Pháp sử dụng phi pháo, dùng máy bay bắn phá, kêu gọi chiêu hồi chiêu hàng, tung biệt kích vào trang, vùng đồng bào sinh sống để lôi kéo, tổ chức các ổ vũ cài cắm tề điệp, gây dựng những tổ chức chính trị phản động.
Trước tình hình khó khăn đó, để tăng cường sự lãnh đạo, tháng 5/1951, Đoàn Xây dựng miền Tây An Lão được thành lập, qua một thời gian hoạt động bằng những hành động thiết thực, đúng đắn của cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang trong Đoàn, đồng bào dân tộc càng hiểu rõ kháng chiến; đồng bào ngày càng tích cực tham gia công tác bố phòng chống Pháp, tăng gia sản xuất, cải thiện dân sinh; tổ chức được lực lượng dân quân tự vệ chiến đấu các làng.
Ở các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu phong trào kháng chiến ngày càng phát triển mạnh. Nhiều nơi xây dựng được tổ chức nữ dân quân, bạch đầu quân trang bị vũ khí các loại như súng, đạn. Hầu hết dân quân đều qua khóa huấn luyện, tập dùng các loại vũ khí thô sơ có sẵn, thích hợp với hoàn cảnh địa phương như mang cung, bẫy ná, hầm chông, cạm chông,... Ngoài ra, nhân dân tích cực hưởng ứng phong trào xây dựng làng chiến đấu, cắm cọc phòng không, chống địch nhảy dù, phòng gian bảo mật, chống biệt kích.
Năm 1951, việc đào tạo phát triển cán bộ địa phương được coi trọng và xúc tiến mạnh. Kết quả toàn bộ huyện An Lão đào tạo được 15 cán bộ, bổ sung cho các ngành cấp huyện, xã. Một số khác đưa đi dạy các lớp bình dân học vụ ở các thôn, làng. Nhờ vậy, các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu được tăng cường thêm nhiều cán bộ có năng lực để đẩy mạnh phong trào cách mạng. Từ sau Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu V (8/1951), dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Bình Định và Huyện ủy An Lão, ở các xã tiếp tục bầu cử hội đồng nhân dân các cấp và xây dựng, củng cố Ủy ban Kháng chiến hành chính.
Năm 1952, thực dân Pháp tăng cường đánh phá, cho biệt kích xâm nhập, dùng hình thức tuyên truyền để ly gián, phá khối đoàn kết, dùng xa xỉ phẩm mua chuộc đồng bào, tạo điều kiện phát triển tề điệp, theo dõi đồng bào thiểu số. Trước âm mưu thâm độc của kẻ thù, Tỉnh ủy chủ trương thực hiện đúng phương châm kinh tế, đi đôi với chính trị để phục vụ cho quân sự mà công tác dân vận là căn bản. Cán bộ đảng viên phải bám sát dân, lấy việc cải thiện nhân dân làm mấu chốt, chống kế hoạch vũ trang càn quét của địch.
Tháng 12/1952, Đại hội Đảng bộ huyện An Lão lần thứ II được tổ chức tại làng nước Cà Sa, xã An Đồng (hiện nay thuộc xã An Hưng). Sau Đại hội, Huyện ủy chỉ đạo các cấp xã, huyện thực hiện củng cố tổ chức cơ sở Đảng nhằm nâng cao trình độ tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên.
Đầu năm 1953, thực dân Pháp ra sức đánh phá các vùng tự do Nam, Ngãi, Bình, Phú với mức độ ngày càng ác liệt. Thực dân Pháp âm mưu phát triển vũ trang ở các vùng miền núi, phát triển tề điệp nhằm vào các thành phần địa chủ ngoan cố, những thành phần bất mãn với chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ. Cho máy bay oanh tạc bắn phá, phá hoại mùa màng. Trước tình hình đó, Huyện ủy An Lão lãnh đạo các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu tổ chức lực lượng ngăn chặn các hoạt động của địch, bắt gọn một số tổ chức gián điệp hoạt động tại địa bàn.
Tháng 4/1953, Trung ương Đảng Chỉ thị về công tác phát động quần chúng, nêu rõ mục đích phát động quần chúng đập tan thế lực chính trị, làm suy yếu thế lực kinh tế và giành ưu thế chính trị cho nhân dân, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến. Thực hiện chủ trương của Trung ương và sự lãnh đạo của Huyện ủy An Lão, nhân dân Ân Bửu, Ân Chính, Ân Khánh tham gia đấu tranh, đấu tố tầng lớp địa chủ, phong kiến. Phong trào này lan rộng ra các xã An Cư, An Mỹ của An Quang ngày nay. Trong các ngày 13, 14 và 15/5/1953, đồng bào viết đơn tập thể kiện ông Cửu Thể - một thương lái gian xảo. Ngày 17/5/1953, nhân dân các làng tham gia đấu tố, vạch trần những tội lỗi của Cửu Thể, như đánh đập, chửi mắng đồng bào, nói xấu Chính phủ, bóc lột, cướp bóc, lấn chiếm đất đai,...; đồng thời buộc ông phải trả lại cho đồng bào đất đai, nương rẫy, cây ăn trái và các vật dụng khác[41].
Ngày 10/9/1953, Mặt trận Liên Việt tỉnh Bình Định bầu Ban Chấp hành mới, đồng chí Đinh Rú (tức Đinh Xuân Ba) là đại biểu của huyện An Lão được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Mặt trận Liên Việt tỉnh. Cuối năm 1953, thực dân Pháp chuẩn bị mở cuộc hành quân Át-lăng, đánh chiếm vùng tự do Liên khu V. Huyện ủy An Lão lãnh đạo quân dân các xã, trong đó có An Cư, An Mỹ và An Hậu tăng cường xây dựng lực lượng, bố phòng ra sức phát triển hầm chông, cạm bẫy, phòng giam bảo mật; huy động nhân dân tham gia các ban dân công phục vụ theo yêu cầu của các mặt trận chiến đấu, góp phần vào thắng lợi của quân dân Bình Định trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 trên chiến trường Liên khu V.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, lập lại hòa bình ở Đông Dương (21/7/1954). Sau khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, các xã An Cư, An Mỹ, An Hậu và huyện An Lão thuộc địa bàn chuyển giao cho đối phương quản lý. Đảng bộ huyện An Lão khẩn trương thành lập Đoàn xây dựng cơ sở chính trị, nhiệm vụ chủ yếu của Đoàn là giải thích cho toàn thể cán bộ, đảng viên và đồng bào về việc ký kết Hiệp định, lập lại hòa bình trên cả nước, giải phóng một nửa đất nước.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp ở Bình Định là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của các cấp ủy Đảng và chính quyền cách mạng, tinh thần đoàn kết của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, trong đó có sự đóng góp, chung sức của đồng bào các dân tộc huyện An Lão. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu mặc dù chưa thành lập tổ chức Đảng[42], song nhờ sự quan tâm của Huyện ủy, nhiều cán bộ, đảng viên được tăng cường về nắm bắt tình hình, trực tiếp truyền đạt chủ trương, đường lối của Đảng, hỗ trợ công tác xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng hậu phương, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi.
II. AN QUANG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 - 1975)
1. Xây dựng căn cứ kháng chiến, đập tan âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, góp phần giải phóng quê hương (1954 - 1964)
Thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta trong chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ có ý nghĩa quyết định đối với cục diện quân sự và chính trị trên toàn chiến trường Đông Dương. Tiếp theo là Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được ký kết đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp có đế quốc Mỹ giúp sức đối với 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Theo văn bản của Hiệp định Giơ-ne-vơ, Việt Nam tạm thời chia thành hai miền, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Để thực hiện hòa bình, quân đội hai bên ngừng bắn, tiến hành chuyển quân, tập kết và chuyển giao khu vực, sau hai năm sẽ tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử trong cả nước. Những điều khoản này sẽ được hai bên thực hiện trong thời gian 300 ngày, kể từ ngày 21/7/1954. Bình Định nói chung, An Lão nói riêng là một trong những địa điểm đóng quân của ta để xúc tiến việc chuyển quân tập kết trong thời gian 300 ngày, từ ngày 21/7/1954 đến ngày 16/5/1955.
Trước tình hình đó, đòi hỏi cách mạng miền Nam phải đồng thời giải quyết những vấn đề rất mới về chỉ đạo chiến dân miền Nam, Đảng bộ và nhân dân huyện miền núi An Lão lược cũng như về phương pháp đấu tranh. Cùng với nhân đang đứng trước những khó khăn, thử thách cần phải tập trung giải quyết. Tháng 7/1954, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 (khóa II) của Đảng họp và chủ trương chuyển hướng công tác cách mạng miền Nam phù hợp với tình hình mới. Thực hiện nhiệm vụ chung của dân tộc, cuối năm 1954, Tỉnh ủy Bình Đình tổ chức quán triệt Nghị quyết của Trung ương Đảng và Khu ủy Khu V về tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới; đề ra nhiệm vụ: tích cực lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi thi hành đúng hiệp định đình chiến, củng cố hòa bình... chống địch khủng bố, đàn áp quần chúng[43].
Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Bình Định, Đảng bộ huyện An Lão chỉ đạo cán bộ, đảng viên các xã thi hành một số nhiệm vụ cấp bách: Tuyên truyền, giải thích cho đồng bào hiểu rõ về nội dung của Hiệp định Giơ-ne-vơ, những nhiệm vụ của cách mạng địa phương trong thời gian tới, sẵn sàng tiếp quản, che giấu cán bộ ở lại hoạt động. Tập trung khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, củng cố lại tổ chức Đảng và đoàn thể ở địa phương. Bên cạnh những đảng viên, chiến sĩ cách mạng được chọn đi tập kết ra miền Bắc theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ, địa phương phân công cán bộ, đảng viên ở lại, bám đất, bám làng, hoạt động “hợp pháp” và “bất hợp pháp”.
Trong khi phía cách mạng nghiêm chỉnh chấp hành các điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ, thì ngược lại kẻ thù luôn tìm mọi cách phá hoại. Ở miền Bắc, khi rút quân, thực dân Pháp cho đập phá nhiều cơ sở máy móc, tiến hành thủ tiêu một số cán bộ cách mạng bị chúng bắt giam trước đó, dụ dỗ cưỡng ép đồng bào công giáo di cư vào Nam... Ở miền Nam, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm ráo riết đẩy mạnh các hoạt động để mở đường cho quân đội nhảy vào xâm chiếm nước ta.
Ngày 19/3/1955, ngay sau khi tiếp quản An Lão, chính quyền Sài Gòn đổi tên thành Nha hành chính An Lão (trụ sở đặt tại thôn Xuân Phong, xã An Hòa[44]), quản lý 19 xã[45], trong đó có 3 xã An Cư, An Mỹ và An Hậu. Sau đó, địch tập trung xây dựng bộ máy kìm kẹp, tổ chức hệ thống bộ máy cai trị đồng bào các dân tộc ở An Lão. Tháng 5/1958, chính quyền Sài Gòn đổi nha An Lão thành quận An Lão, thực hiện 2 chức năng: vừa thống trị trực tiếp đồng bào Kinh ở các xã vùng thấp, vừa cai trị, đàn áp đồng bào dân tộc H’rê ở vùng cao.
Để thống trị đồng bào H’rê, chính quyền Sài Gòn cho xây dựng bộ máy cai trị xuống cấp cơ sở. Về cơ cấu chính quyền ở An Cư, An Mỹ và An Hậu được tổ chức giống với các xã vùng cao khác của huyện An Lão. Trên xã là cấp quận (có quận trưởng và một số người giúp việc), kế dưới là xã (có Hội đồng xã, gồm 1 đại diện, 1 phó đại diện quản lý về mặt an ninh, hộ tịch, hộ khẩu và 1 thư ký), dưới nữa là thôn, làng (có thôn trưởng, trực tiếp giúp việc cho Hội đồng xã), dưới cùng có các liên gia (mỗi liên gia gồm từ 5 đến 10 gia đình do một liên gia trưởng quản lý). Thành phân trong chính quyền địch gồm những người thuộc các đảng phái phản động, địa chủ bất mãn trong kháng chiến. Mặt khác, chúng còn chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, mỗi xã có ít nhất 1 tiểu đội dân vệ. Bộ máy cảnh sát, mật vụ, chỉ điểm, Ban tố cộng được hình thành. Nhằm giúp việc quản lý đồng bào H’rê, chính quyền Ngô Đình Diệm có sự kết hợp giữa bộ máy hành chính với bộ máy quân sự, cảnh sát, mật vụ, hòng dụ dỗ, chia rẽ, đàn áp, tiêu diệt lực lượng cách mạng. Quần chúng bị cưỡng bức gia nhập các đoàn thể: “Thanh niên cộng hòa”, “Phụ nữ liên đới”, “Phong trào cách mạng quốc gia”...
Sau khi thành lập xong chính quyền, từ tháng 5/1955, địch tập trung lực lượng tiến hành chiến dịch “tố cộng” vô cùng tàn bạo. Chúng tiến hành thu thập thông tin, phân loại đảng viên và những những người kháng chiến làm 3 loại[46] để phân biệt đối xử và dễ bề quản chế, quản thúc, thủ tiêu khi cần thiết. Tất cả mọi người dân không phân biệt đảng viên hay quần chúng, nghĩa là có dính dáng ít nhiều trong cuộc kháng chiến chống Pháp và có thái độ không quy phục chính quyền Sài Gòn đều là đối tượng bị đàn áp và khủng bố. Chúng tiến hành khủng bố, trả thù quần chúng nhân dân và những đảng viên trung thành với Đảng. Nhiều vụ bắt cóc, ám hại người yêu nước dồn dập diễn ra tại địa phương nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng.
Cuối năm 1956, thực hiện chiến dịch “tố cộng” ở địa bàn miền núi, chúng lấy huyện An Lão và một số xã làm trọng điểm đánh phá. Ở các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu, chúng dùng gạo, muối, thuốc lá, thuốc chữa bệnh mua chuộc dụ dỗ những người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số lập ra các tổ chức tề ngụy, cải cách mạng lưới cộng tác viên, dùng thương lái làm tay chân dò xét quần chúng, mua chuộc các già làng để điều tra nắm tung tích cán bộ, khám phá các cơ quan, kho tàng cách mạng. Chúng kết hợp các cuộc hành quân vây ráp, càn quét, lùng sục, bắt bớ, cưỡng bức đồng bào tố giác cán bộ người Kinh và các tổ chức cách mạng, với việc mua chuộc, dụ dỗ đồng bào. Tại các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu, chúng bắt một số người yêu nước đem về quận lỵ tra tấn dã man[47] nhưng họ vẫn kiên trung bảo vệ cách mạng, không khai báo. Chúng thực hiện bao vây kinh tế, cấm không cho dân xuống đồng bằng, sợ đồng bào tiếp tế, móc nối với cách mạng, cấm đi lại làm ăn, thăm viếng lẫn nhau, ma chay, cưới hỏi bị cấm đoán ngặt nghèo.
Bên cạnh việc tổ chức đánh phá, địch còn ra sức tuyên truyền, lôi kéo nhân dân tham gia các tổ chức chính trị phản động do chúng lập ra. Tổ chức nhiều cuộc càn quét lùng sục, bắt bớ, cưỡng bức nhân dân, tố cáo cán bộ và các tổ chức cách mạng. Trong 10 ngày đầu tháng 5/1957, địch dùng 3 trung đội lính bảo an, 2 tiểu đội lính dân vệ [48]của huyện Hoài Ân loạt vào nhiều địa phương của huyện An Lão, trong đó có các cùng với 20 tề ngụy ác ôn địa phương mở cuộc càn quét đồng xã An Cư, An Mỹ và An Hậu, chúng bắt đồng bào tham dự 13 cuộc mít tinh, phân phát 3.000 kg gạo, 1.500 bộ quần áo nhằm dụ dỗ mua chuộc, thu thập tin tức về cách mạng, nhưng không được như mong muốn. Kết quả, chúng không bắt được cán bộ, đảng viên nào, chỉ đốt mấy chòi canh rẫy, cướp một số thóc của đồng bào rồi rút quân.
Tháng 8/1957, địch tập trung ở An Lão một đại đội lính bảo an với hơn 100 tên (đông nhất so với các huyện miền núi khác trong tỉnh) và 1 tổng đoàn dân vệ và đến tháng 11/1957 thì lực lượng dân vệ của địch ở An Lão lên đến 117 tên. Từ ngày 19 đến ngày 22/8/1957, lực lượng bảo an và dân vệ tổ chức các cuộc tảo thanh ở khắp các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu, bắt nhân dân tham dự các cuộc mít tinh, lùng sục bắt cán bộ cách mạng, đốt 31 chòi canh, tổ chức 18 cuộc ăn thề chống cộng... Chúng đẩy mạnh tuyên truyền nói xấu miền Bắc, nói xấu Đảng, Bác Hồ, nhằm gây tâm lý hoang mang, nghi kỵ trong nhân dân. Địch còn lập ra các tổ chức phản động, tập hợp tay sai, những người bất mãn cách mạng để thực hiện các mưu đồ của chúng.
Trước âm mưu của địch, Ban Cán sự huyện An Lão phân công cán bộ về các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu bám sát từng làng hướng dẫn đồng bào tăng gia sản xuất cứu đói và tích cực tranh thủ nắm các già làng, những người có uy tín trong nhân dân để vận động quần chúng vạch trần những âm mưu thủ đoạn của địch, tạo điều kiện cho cách mạng nắm bắt tình hình và xây dựng kế hoạch đối phó. Đồng bào các xã tổ chức ăn thề, lập tự vệ mật bố phòng làm hào lũy đề phòng địch càn quét bất ngờ. Một số nơi đồng bào dời làng lên núi cao, nhất quyết không hợp tác với địch. Đầu năm 1958, trong cuộc họp các quận trưởng, chính quyền Sài Gòn tỉnh Bình Định đã thừa nhận: Việt cộng rất mạnh ở Vĩnh Thạnh và vùng cao An Lão, thanh niên một số xã ở Vĩnh Thạnh và An Lão chống luật quân dịch... đồng bào Thượng hiện nay vẫn còn là bức tường thành chắc chắn che chở cho Việt cộng[49].
Đối phó với phong trào cách mạng phát triển mạnh trong địa bàn tỉnh, bước sang năm 1958, địch tiến hành đánh phá ác liệt, mở các cuộc hành quân vây ráp, lùng sục. Tại các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu nói riêng và huyện An Lão nói chung, địch sử dụng chiêu bài thực hiện “định canh, định cư”, “cải thiện đời sống đồng bào Thượng” để đánh lừa quần chúng. Với chiêu bài này, địch muốn thực hiện âm mưu dồn dân các làng đồng bào H’rê ở vùng cao, xuống các vùng giáp ranh, ven quận lỵ để dễ bề kiểm soát, không chế, tách đồng bào ra khỏi lực lượng cách mạng, cô lập lực lượng cách mạng, khống chế khu vực vùng cao... Địch tiến hành mua chuộc, dụ dỗ kết hợp với càn quét, bao vây, tạo sức ép dồn dân các làng thuộc 3 xã An Cư, An Mỹ và An Hậu ra khu dồn Gò Vĩ - Đất Dài (thuộc thị trấn An Lão hiện nay)... Trước tình hình đó, phong trào chống dồn dân ở các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu diễn làng, bám đất, chuẩn bị bố phòng, căm chông, treo bẫy đá, ra khá quyết liệt, các già làng họp và nhất trí quyết định bám làm tên ná, tiến hành bao vây địch, phản đối bắt lính, không cho chúng lùng sục các căn cứ của ta.
Năm 1959, Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngày càng phát xít hóa bộ máy cai trị của mình làm cho nhân dân ta đứng trước nhiều khó khăn và cực khổ. Tháng 3/1959, Ngô Đình Diệm ban hành Đạo luật 10/59 lê máy chém đi khắp miền Nam để giết hại những người cộng sản. Trước tình hình đó Hội nghị Trung ương lần thứ 15 của Đảng tiến hành tại Hà Nội, phân tích tình hình cách mạng ở miền Nam và chỉ rõ con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Nghị quyết 15 như một luồng gió mới thổi vào phong trào cách mạng miền Nam nói chung, huyện An Lão nói riêng. Dưới ánh sáng Nghị quyết, nhân dân An Cư, An Mỹ và An Hậu tiếp tục rào làng bố phòng, chống dồn dân, chống địch càn quét, khủng bố, đẩy mạnh sản xuất, tích cực dự trữ lương thực, thực phẩm, thuốc men để giúp đỡ cán bộ, du kích hoạt động bí mật, thành lập đội tự vệ,... tiến lên giải phóng các làng.
Trên tinh thần của Nghị quyết 15, từ tháng 02/1959 đến đầu tháng 6/1959, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện An Lão, đồng bào các dân tộc An Cư, An Mỹ và An Hậu nổi dậy chống dồn dân, tiến lên phát động phong trào du kích cục bộ kết hợp với đấu tranh chính trị để giành và giữ quyền làm chủ. Đầu năm 1960, sau các cuộc vũ trang tuyên truyền, diệt ác ở các xã An Dân, An Cư, cách mạng đã hạ uy thế và phá rã bộ máy kìm kẹp của địch ở nhiều làng xã vùng thấp, đồng thời đẩy mạnh phong trào chống địch ở vùng cao. Nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ ở các địa phương vùng cao; trong đó có 2 xã An Cư, An Mỹ[50]. Giải phóng đến đâu, lập Ban Tự quản từ xã đến thôn để quản lý, chỉ đạo tổ chức sản xuất cứu đói và xây dựng lực lượng du kích sẵn sàng chiến đấu chống sự càn quét đánh chiếm trở lại của kẻ thù[51].
Nhằm cứu vãn những thất bại và kịp thời đối phó với phong trào đấu tranh cách mạng không ngừng phát triển; nửa cuối năm 1960, địch ráo riết đẩy mạnh các cuộc càn quét, giết người, bắt bớ, lùng sục... tiêu diệt cơ sở đảng và các lực lượng cách mạng, giành lại các vùng mà chúng kiểm soát đã mất... Trên địa bàn huyện An Lão, địch tiếp tục khủng bố và gây ra nhiều tội ác đẫm máu, điển hình là vụ thảm sát Đá Bàn thuộc xã An Lạc lúc bấy giờ vào ngày 21 tháng 11 năm 1960[52].
Tin làng Đá Bàn bị tàn sát, Huyện ủy An Lão tổ chức lễ truy điệu và phát động phong trào “Phất cao ngọn lửa căm hờn, trả thù cho đồng bào làng Đá Bàn” và quyết tâm thực hiện chủ trương của Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ V, tháng 6/1960: “Đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiến lên giải phóng hoàn toàn huyện miền núi. Đồng thời ra sức xây dựng miền núi vững mạnh về mọi mặt, làm căn cứ cho phong trào toàn tỉnh”[53].
Tháng 12/1960, chính quyền Sài Gòn sử dụng tiểu đoàn quân chủ lực người Hrê từ Ba Tơ (Quảng Ngãi) phối hợp với lực lượng bảo an, dân vệ ở An Lão thực hiện cuộc hành quân càn quét, cướp bóc tài sản của đồng bào các xã An Dân, An Lạc, An Ninh... Cùng lúc này, chúng dùng máy bay ném bom oanh tạc, dùng đại bác bắn vào các xã mới giải phóng như An Cư, An Mỹ và An Hậu để uy hiếp quần chúng, phá hoại nhà cửa, hoa màu của nhân dân. Trước tình hình đó, lực lượng bộ đội Đơn vị 2/9 - đơn vị vũ trang đầu tiên của tỉnh Bình Định trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước tổ chức đánh phục kích địch ở khu vực Đất Dài (thuộc thị trấn An Lão hiện nay) diệt gọn một tiểu đội, buộc chúng phải rút lui. Nhân cơ hội đó, đồng bào các xã vùng cao An Lão nổi dậy phá khu tập trung Gò Nĩ - Đất Dài, trở về làng cũ sinh sống.
Sau sự kiện này, hầu hết các địa phương miền núi thuộc huyện An Lão được giải phóng, trong đó có xã An Cư, An Mỹ và An Hậu. Và cũng trong khoảng thời gian 1959 - 1960, một số đoàn viên thanh niên tiên tiến có nhiều đóng góp đối với phong trào cách mạng địa phương như làm liên lạc, tham gia du kích chiến đấu được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam thuộc Chi bộ Cơ quan Huyện ủy, tiêu biểu là đồng chí Đinh Văn Chia[54] (tức Đinh Văn Hòi). Đây là một trong những đảng viên đầu tiên của đồng bào dân tộc khu vực các xã phía Nam huyện An Lão và đồng thời là đảng viên đầu tiên của xã An Quang sau này. Từ đây phong trào cách mạng ở địa phương có sự lãnh đạo trực tiếp của cán bộ, đảng viên. Với việc giải phóng xã An Cư và thành lập chính quyền cách mạng năm 1960 do đồng chí Đinh Văn Chia làm Chủ tịch là một trong những sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu mốc son lịch sử của vùng đất An Quang, tạo ra chỗ đứng chân vững chắc cho lực lượng vũ trang tỉnh và chỗ dựa trực tiếp cho phong trào cách mạng hai huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, tạo tiền đề để nhân dân các dân tộc An Lão tiến lên giải phóng hoàn toàn quê hương.
Phong trào “Đồng Khởi” ở miền Nam nói chung, tỉnh Bình Định nói riêng đã phá vỡ từng mảng lớn hệ thống chính quyền của địch ở nông thôn, đánh dấu bước phát triển nhảy vọt đầu tiên của cách mạng miền Nam “từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công”. Để đối phó với phong trào cách mạng miền Nam, từ 1961, đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Đây là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới được tiến hành bằng lực lượng quân đội Sài Gòn do Mỹ tổ chức, trang bị và dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ nhằm mục đích tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam nước ta, qua đó rút kinh nghiệm để đàn áp phong trào giải phóng dân tộc ở các nước trên thế giới.
Mở đầu chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” là kế hoạch Xtalây-Taylo, nhằm “bình định” miền Nam trong vòng 18 tháng (7/1961 đến 12/1962), với 3 biện pháp chủ yếu: tăng cường xây dựng ngụy quân, tổ chức những cuộc hành quân càn quét tiêu diệt lực lượng cách mạng; dồn dân lập ấp chiến lược, thực hiện khẩu hiệu “tát cạn nước để bắt cá”; củng cố ngụy quyền ở các đô thị.
Triển khai kế hoạch này tại Bình Định, trong năm 1961, địch ráo riết bắt lính, mở mang giao thông, bắt dân rào quanh núi, phát quang bụi rậm, lập đồn bốt vùng giáp ranh, dồn dân các làng... Năm 1962, địch tiến hành tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét đánh phá quyết liệt, để dồn dân vào ấp chiến lược[55]. Tại An Lão, đến tháng 2/1961 chúng xây dựng 350 liên gia người Kinh, 333 liên gia người dân tộc thiểu số. Tháng 8/1961, địch sử dụng 5 đại đội chính quy và lực lượng lính bảo Phong (An Hòa), bắn hàng trăm quả đạn pháo vào khu vực an, có máy bay yểm trợ. Chúng đặt trận địa pháo ở thôn Xuân An Cư, An Mỹ và An Hậu để yểm trợ cho hoạt động càn quét.
Trong 2 năm 1962 – 1963, đồng bào các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu tiếp tục đương đầu với hàng chục cuộc càn quét của địch, điển hình như trận càn “Đồng tiến” (3/1962) của 7 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 9, trận càn “Dân tiến” (cuối 1962 đầu 1963) của 2 trung đoàn thuộc Sư đoàn 9, trận càn “Dân thắng 116” (từ 13 đến 20/8/1963) của hơn 1 trung đoàn có trực thăng và xe tăng phối hợp. Trong các trận càn này, quân địch không chỉ đốt phá nhà cửa, ruộng rẫy, bắn chết trâu bò mà còn giết người, chặt đầu, bêu thây để uy hiếp đồng bào... Cùng với càn quét, đầu năm 1963, địch mở đường giao thông từ huyện Hoài Ân lên An Cư, An Hậu qua huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi), tiếp tục thực hiện mưu đồ cắt đứt liên lạc giữa vùng giải phóng với các xã đồng bằng, gây khó khăn cho công tác di chuyển bộ đội, hỗ trợ lương thực thực phẩm, ngăn ngừa lực lượng cách mạng tiến xuống đồng bằng.
Với truyền thống kiên cường bất khuất, một lòng theo Đảng, nhân dân các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu tích cực tăng gia sản xuất, thực hiện tự cung tự cấp, đảm bảo đời sống; đồng thời phối hợp với lực lượng vũ trang huyện, tỉnh liên tục bẻ gãy nhiều cuộc hành quân càn quét của địch, tổ chức phục kích, chiến đấu, tiêu diệt và làm bị thương hàng trăm địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, bảo vệ thôn làng. Chỉ tính từ ngày 19 đến ngày 27/4/1963, liên tục đánh địch càn quét ở địa bàn các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu, diệt và loại khỏi vòng chiến đấu nhiều quân địch. Những thắng lợi trên có ý nghĩa rất lớn đối với quân và dân địa phương, góp phần bảo vệ cán bộ, lực lượng cách mạng, làm cho đồng bảo thêm phấn khởi, tiếp tục chi viện sức người sức của, hỗ trợ cho An Lão tiến lên giải phóng toàn huyện.
Bên cạnh đó, các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu còn tích cực vận động con em địa phương gia nhập lực lượng du kích tại chỗ; đồng thời động viên, lựa chọn một số du kích địa phương thoát ly, gia nhập lực lượng vũ trang huyện, tỉnh. Đến ngày 20/12/1963, huyện An Lão đã xây dựng được 2 trung đội vũ trang tập trung, gồm có 64 người. Ở huyện thành lập Ban Chỉ huy huyện đội, ở xã có ban chỉ huy xã đội, du kích xã cũng phát triển và lực lượng ngày càng đông, tuy nhiên vũ khí thì còn thô sơ, chủ yếu là vũ khí tự tạo...
Qua hơn 2 năm tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, kế hoạch nhanh chóng “bình định” miền Nam của Mỹ đã bị phá sản. Sau ngày đảo chính Ngô Đình Diệm, nội bộ chính quyền tay sai ngày càng lục đục. Nhằm cứu vãn tình thế, tháng 3/1964, Mỹ đưa ra kế hoạch Giôn-xơn - Mắc-na-ma-ra, “bình định” có trọng điểm ở miền Nam trong vòng 2 năm 1964 - 1965. Kế hoạch này gồm 2 điểm chủ yếu là: dồn dân lập ấp chiến lược (đổi tên là “ấp tân sinh”) và đẩy mạnh tấn công quân sự.
Tại Bình Định, Tỉnh ủy lãnh đạo đẩy mạnh đấu tranh địch trên cả 3 mặt trận: quân sự, chính trị, binh vận và thu được nhiều thắng lợi. Phong trào phá “ấp chiến lược” phát triển rộng khắp, cuối năm 1963, toàn tỉnh phá 109 ấp, trong đó có 84 ấp bị phá dứt điểm. Phong trào “Đồng khởi khu Đông” (từ tháng 7 đến tháng 10/1964) giành thắng lợi to lớn, các “ấp chiến lược” tiếp tục bị phá, nhiều xã, thôn ở miền núi và đồng bằng được giải phóng.
Cuối năm 1964, quân ngụy tổ chức thành những sư đoàn, binh đoàn lớn liên tục mở những cuộc càn quét có quy mô trên toàn miền Nam, trong đó tỉnh Bình Định được xem là vùng trọng điểm “bình định” của địch ở Quân khu V. Thực hiện kế hoạch mới, tại Bình Định, địch huy động máy bay thường xuyên thực hiện các cuộc bắn phá vào khu vực giáp ranh giữa huyện An Lão với huyện Hoài Ân và huyện Hoài Nhơn, tăng cường bắn phá các xã vùng giải phóng, phá hoại kinh tế. Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy An Lão, nhân dân An Cư, An Mỹ và An Hậu nói riêng và các xã khác trên địa bàn huyện vượt qua khó khăn, thử thách; từng bước khôi phục lại nương rẫy, tích cực trồng trỉa các loại hoa màu để kịp thời cứu đói; khôi phục nghề thủ công truyền thống, duy trì chăn nuôi; tiến hành khai thác lâm thổ sản, trao đổi với đồng bằng những nhu yếu phẩm cần thiết. Tổ chức những đợt sinh hoạt chính trị lớn, phát động ủng hộ phong trào đồng khởi ở đồng bằng.
Những thắng lợi liên tiếp của quân dân Bình Định đẩy quân địch trên địa bàn tỉnh ngày càng suy yếu. Tuy vậy, muốn giành thắng lợi quyết định, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở Bình Định, đòi hỏi phải tạo ra “cú hích” đủ mạnh, làm “rúng động” cả hệ thống chính quyền tay sai của Mỹ ở địa phương, tạo điều kiện cho ta nổi dậy phá “ấp chiến lược”, giành dân, giải phóng xã, thôn, làng. Trong bối cảnh lịch sử đó, chiến dịch An Lão nổ ra và giành thắng lợi, xứng đáng hoàn thành trọng trách lịch sử này (7 - 23/12/1964). Chiến thắng An Lão là thành quả chiến đấu của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, của Đảng bộ và nhân dân An Lão, đồng thời có sự đóng góp của lực lượng du kích và đồng bào An Cư, An Mỹ và An Hậu. Nhân dân và lực lượng du kích các xã này không những trực tiếp tham gia đánh địch, mà còn đóng góp sức người, sức của cho chiến dịch An Lão; lương thực, thực phẩm, vũ khí, thuốc men, đạn dược được đồng bào tiếp tế, ủng hộ, vận chuyển kịp thời. Và cũng chính nhờ có sự ủng hộ, đùm bọc của đồng bào An Cư, An Mỹ và An Hậu, lực lượng bộ đội chính quy, bộ đội địa phương có chỗ đứng chân vững chắc, bí mật thực hiện thành công chiến dịch.
2. Đập tan các cuộc phản công của địch, bảo vệ quê hương, góp phần giải phóng tỉnh Bình Định (1965 - 1975)
Thắng lợi của quân và dân ta trong năm 1964 và đầu năm 1965 làm cho chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” mà đế quốc Mỹ tiến hành chống lại nhân dân ta ở miền Nam đang đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, đẩy quân đội Sài Gòn đi đến sụp đổ. Nhằm cứu vãn tình thế đó, Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam, đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, chuyển sang thực hiện loại hình chiến tranh mới - “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc nước ta.
Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” được Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiến hành bằng hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định”. Mỹ coi những cuộc hành quân lớn “tìm diệt” chủ lực quân giải phóng, nhằm “bẻ gãy xương sống Việt cộng” là biện pháp chiến lược chủ yếu quyết định thắng lợi của chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam. Tỉnh Bình Định nói riêng, vùng đồng bằng Liên khu V nói chung là một trong những hướng hành quân càn quét trọng điểm của chúng. Đến cuối năm 1965, trong số 204.000 quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ đã vào miền Nam thì Bình Định có đến hơn 20.000 với các đơn vị sừng sỏ. Cùng thời gian, quân đội Sài Gòn thường xuyên có từ 7 đến 13 tiểu đoàn chủ lực, 20 đại đội bảo an và biệt kích, hơn 100 trung đội dân vệ, thanh niên chiến đấu, thanh niên chống du kích[56]. Âm mưu của chúng ở Bình Định là giữ cho ngụy quân, ngụy quyền khỏi tan rã, ngày càng bổ sung tăng cường xây dựng quân cảng Quy Nhơn thành cầu chiến lược cho Tây Nguyên và thực hiện chiến lược “tìm diệt” quân chủ lực của ta và “bình định” vùng nông thôn.
Trước âm mưu và thủ đoạn mới của kẻ thù, Tỉnh ủy chỉ đạo các huyện tổ chức cho cán bộ, đảng viên học tập Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 11 (3/1965), Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch (7/1965) và Nghị quyết Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng (7/1965). Trên cơ sở phân tích tình hình, âm mưu và thủ đoạn mới của kẻ thù ở địa phương, Huyện ủy An Lão xác định quyết tâm đánh Mỹ và tay sai, kiên trì chiến lược tiến công với phương châm hai chân (chính trị, vũ trang), 3 mũi (chính trị, quân sự và binh vận) và 4 bám (dân bám đất, cán bộ bám dân, lực lượng vũ trang bám địa hình đánh địch, trên bám dưới); đồng thời phát động phong trào “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”, thi đua đạt danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ”.
Dựa vào ưu thế quân sự với đội quân đông, vũ khí hiện đại, hỏa lực mạnh, cơ động nhanh; vừa đưa quân vào miền Nam, Mỹ cho quân viễn chinh mở ngay cuộc hành quân “tìm diệt” tấn công đơn vị quân giải phóng ở Vạn Tường thuộc xã Bình Hải, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Tiếp đó, Mỹ mở liền 2 cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967 bằng hàng loạt các cuộc hành quân có lớn và những vùng “đất thánh Việt cộng”. Trước tình hình đó, tháng 12/1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 12, nhận định: “Mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch không có gì thay đổi lớn. Tuy cuộc chiến tranh ngày càng trở nên gay go, ác liệt nhưng nhân dân ta có cơ sở chắc chắn để giữ vững và giành thế chủ động trên chiến trường, có lực lượng và điều kiện để đánh bại mọi âm mưu trước mắt và lâu dài của địch”[57].
Quán triệt Nghị quyết số 12-NQ/TW, Khu ủy và Quân khu ủy Khu V đã họp nêu cao quyết tâm phản công và tiến công địch, đánh bại các cuộc hành quân mùa khô của chúng. Tháng 01/1966, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định họp cùng với Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 Sao Vàng tìm biện pháp chống địch. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Bình Định, Đảng bộ, quân và dân các dân tộc An Lão nêu cao quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ. Tích cực xây dựng lực lượng, đoàn kết chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng, đẩy mạnh thực hiện 5 phong trào hành động cách mạng, xây dựng hậu cứ kháng chiến, đóng góp nhân tài, vật lực góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi.
Trong mùa khô 1965 - 1966, Bắc Bình Định là mũi phản công lớn nhất của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Lực lượng của địch bao gồm Sư đoàn Kỵ binh không vận số 1 Mỹ, 1 trung đoàn thuộc Sư đoàn Mãnh Hổ, 2 trung đoàn thuộc Sư đoàn 22 ngụy, 2 chiến đoàn dù, hàng chục tiểu đoàn pháo binh, thiết giáp, hơn 500 máy bay lên thẳng và hàng chục lượt pháo đài B52. Mỹ đã mở liên tiếp 3 cuộc hành quân lớn mang tên: “Kẻ nghiền nát” (Masher), “Cánh trắng I và II” (White Wing I and II)[58].
Ngày 7/2/1966, địch huy động một lực lượng lớn gồm 3 tiểu đoàn kỵ binh không vận và một tiểu đoàn dù với hàng trăm máy bay lên thẳng mở cuộc hành quân mang tên “Cánh trắng I” tiến công vào thung lũng An Lão, nơi chúng nghi ngờ có Sư đoàn 3 Sao Vàng trú quân. Sau 10 ngày lùng sục tìm lực lượng chủ lực của ta mà không thấy, trái lại quân địch rơi vào thế trận chiến tranh du kích của ta. Du kích các xã, trong đó có du kích An Cư, An Mỹ dưới sự chỉ huy của đồng chí Đinh Văn Chia, Đinh Văn Nháo[59] phối hợp với lực lượng vũ trang huyện, sử dụng chông mìn, cạm bẫy và các vũ khí thô sơ khác tổ chức thế trận đánh địch. Quân Mỹ bị ta bao vậy, tổ chức đánh cả ngày lẫn đêm, hầu như ngày nào cũng có lính Mỹ bị giết.
Tiến vào hẻm núi, khe suối nào, chúng cũng vấp phải trận địa phục kích dày đặc khắp nơi. Các đơn vị du kích địa phương thông thuộc địa hình, giỏi sử dụng vũ khí thô sơ lúc ẩn, lúc hiện trở thành nỗi khiếp sợ đối với lính Mỹ và tay sai. Không gặp lực lượng chủ lực, chúng trút mọi bực tức vào đồng bào bằng cách đốt phá, tàn sát, cướp bóc làm cho xóm làng xơ xác và một cuộc xúc dân tàn bạo đã diễn ra. Phóng viên Phương Tây đã nhận xét: “Cuộc hành quân Cánh trắng khổng lồ ở thung lũng An Lão chủ yếu đánh vào những người dân tay không. Đó là cuộc hành quân đê tiện và bỉ ổi nhất”[60].
Thất bại cuộc hành quân “Cánh trắng I”, không tìm diệt được chủ lực, ngày 14/2/1966, địch mở cuộc hành quân “Cánh trắng II” vào thung lũng Kim Sơn, huyện Hoài Ân, nơi hai Trung đoàn 12 và 2 của ta đang chủ động triển khai kế hoạch đón đánh chúng. Hỗ trợ cho cuộc tiến quân này, chỉ trong tháng 2, chúng ba lần rải chất độc hóa học xuống các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu cũng như nhiều xã khác thuộc huyện An Lão và huyện Vĩnh Thạnh, tàn phá cây cối, mùa màng, để lại những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe, sản xuất và đời sống của nhân dân, nhưng vẫn không uy hiếp được đồng bào. Cuộc tiến quân cuối cùng cũng bị thất bại hoàn toàn.
Mùa khô 1966 - 1967, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiếp tục cho quân lính đổ bộ tại huyện An Lão, sử dụng Sư đoàn Không vận số 1 mở nhiều trận càn quét, lùa dân xuống trại tập ở Bồng Sơn. Để khống chế vùng rừng núi An Lão, địch tổ chức nhiều trận địa pháo đóng chốt ở các đồi cao. Tiêu biểu là trận địa pháo được xây dựng tại Hòn Chiêng (An Nghĩa), chúng bắn phá bừa bãi để uy hiếp tinh thần và gây khó khăn cho sản xuất, sinh hoạt của quân dân các xã An Nghĩa, An Hâu, An Cư.
Tại An Cư, An Mỹ và An Hậu, địch tổ chức các hoạt động gây cho cách mạng nhiều khó khăn. Ban đêm chúng cho máy bay thả những toán biệt kích ở những địa điểm bí mật, phục lót, bao vây đánh úp lực lượng cách mạng, phát hiện những kho tàng hoặc các hầm trú ẩn của ta, bắn pháo sáng, chiếu đèn pha để kiểm soát. Ban ngày địch tổ chức quân lính càn quét, sử dụng các loại máy bay trực thăng khu trục quần đảo thường xuyên trên bầu trời; đồng thời sử dụng cả máy bay B52 ném bom đốt phá nhiều làng xóm, nhà cửa, nương rẫy. Mặt khác, địch còn sử dụng chiến tranh tâm lý, cho máy bay phát loa, rải truyền đơn xuyên tạc thắng lợi của ta, nói xấu chính quyền cách mạng, làm lung lay ý chí chiến đấu của đồng bào và chiến sĩ ta. Đế quốc Mỹ thực hiện âm mưu xóa sạch vùng căn cứ địa miền núi An Lão, tăng cường mức độ đánh phá ác liệt nhằm hủy diệt tận gốc mọi cơ sở kinh tế của người dân nhằm ngăn chặn sự tiếp tế, chi viện cho lực lượng cách mạng.
Trước tình hình đó, giữa tháng 6/1966, Đại hội Đảng bộ huyện An Lão lần thứ IV đã họp và đề ra nhiệm vụ trước mắt là: quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, thực hiện khẩu hiệu “3 bám”, giáo dục quần chúng “quyết một tấc không đi, một ly không rời” quyết tâm bảo vệ vùng giải phóng. Trong năm 1966, mặc dù Mỹ thực hiện đánh phá và càn quét, song v tinh thần quyết tâm lực lượng cách mạng của huyện An Lão và vùng giải phóng vẫn được bảo vệ và phát triển. Trong thời gian này, tại 3 xã An Cư, An Mỹ và An Hậu xây dựng được 3 trung đội du kích, mỗi trung đội có khoảng 30 chiến sĩ[61]. Ba trung đội này chủ yếu hoạt động tại Núi Một. Mỗi trung đội chỉ có 3 khẩu súng và mỗi chiến sĩ được cấp 9 viên đạn, còn lại đa phần là các loại vũ khí thô sơ như ná, cung tên, bẫy đá...
Ngày 16/01/1967, sau khi cho máy bay B52 ném bom, một tiểu đoàn lính Mỹ và quân đội Sài Gòn đổ bộ xuống vùng Mang Cát (An Hậu) bằng máy bay trực thăng, hòng bao vây “tìm diệt” một đơn vị của Sư đoàn 3 Sao Vàng. Du kích An Hậu tham gia cùng với bộ đội An Lão, Hoài Ân và Sư đoàn 3 Sao Vàng đánh trả quyết liệt, bắn rơi 2 máy bay trực thăng, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 200 quân địch. Tiếp theo trong ngày 2 và 3/2/1967, đế quốc Mỹ cho máy bay B52 thả bom xuống vùng Đá Trải (An Hòa ngày nay) dọc sông Xang lên tận xã An Cư, làm cho nhà cửa, vườn bị phá sạch hoa màu và cây cối đều bị chết trụi, các nguồn nước đều bị nhiễm độc.
Trước tình thế đó, phối hợp với bộ đội huyện, tỉnh và bộ đội chủ lực, lực lượng du kích các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu tiến hành bao vây, bắn tỉa từng tên lính góp phần phá tan đội hình địch, bắn rơi một số máy bay Mỹ[62].
Khoảng tháng 6 năm 1967, trong khi làm nhiệm vụ cảnh giới, theo dõi địch, du kích An Cư phát hiện máy bay trực thăng thả lính biệt kích Mỹ xuống đồi Mang Bồ. Nắm được tình hình, đồng chí Mân - bộ đội huyện, chỉ huy 6 du kích xã bí mật truy tìm và phát hiện lính biệt kích ngồi trên đồi, phía sau những tảng đá, lấy đồ hộp ăn với tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đồng chí Mân chia làm hai mũi bò sát vào vị trí của địch, đồng loạt ném lựu đạn làm cho 4 biệt kích Mỹ chết ngay tại chỗ. Tiếp theo, nhanh chóng áp sát, dùng lưỡi lê đâm những biệt kích còn lại, chúng hoảng hốt bỏ chạy lên đồi cao, bắn pháo hiệu, gọi máy bay đến ứng cứu, đưa về căn cứ, bỏ lại xác đồng đội. Du kích An Cư thu được 5 súng AR15, 2 máy HT1, 1 bản đồ và 5 ba lô.
Để bảo vệ vùng giải phóng, dựa vào điều kiện tự nhiên rừng núi, quân dân An Cư, An Mỹ và An Hậu tích cực xây dựng hệ thống làng chiến đấu liên hoàn, tạo ra hệ thống trận địa rất kiên cố với nhiều hầm chông, bẫy đá và mìn gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Các trận địa liên hoàn chông bẫy được giăng thành nhiều tuyến khắp rừng. Chông là một loại vũ khí thô sơ nhưng rất hiệu quả trong chiến đấu; nguyên vật liệu làm chông có sẵn tại chỗ, cả người già, trẻ em, phụ nữ ai cũng có thể làm được. Chông được bố trí ngụy trận khéo léo thành nhiều dạng chông cắm trên mặt đất, dưới nước, chông sập, hố chông, chông bố trí bao giờ cũng được kết hợp với mang cung, bẫy đá tự động liên hoàn một lúc có thể phóng ra hàng chục mũi sắc nhọn và mạnh đến mức xuyên qua người và có thể gây thương vong hàng tiểu đội. Chông bẫy còn được bố trí kết hợp với mìn và lựu đạn gây khủng hoảng đối với địch.
Từ giữa năm 1967, Mỹ và chính quyền Sài Gòn huy động các phương tiện hiện đại tập trung đánh phá liên tục, thực hiện chính sách “tam quang” (đốt sạch, giết sạch, phá sạch) nhằm biến An Lão trở thành một vùng đất trắng, với những thủ đoạn ném bom, rải chất độc hóa học. Lúc này địa bàn khu vực xã An Quang dưới sự giày xéo của kẻ thù, phần lớn nhà cửa bị thiêu cháy, ruộng đồng bị cày xới, rừng núi tiêu điều,... Đồng bào phải vào lánh vào rừng sâu, sinh sống trong các hang đá hoặc dưới các tán cây lớn, không có đủ lương thực để ăn, thuốc để chữa bệnh. Nhưng với ý chí căm thù giặc, kiên quyết bám trụ giữ làng, họ đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, cùng nhau chia sẻ từng nắm rau rừng, từng manh áo cũ để vượt qua đói rét; đoàn kết chiến đấu đẩy lùi các cuộc hành quân càn quét của địch, bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ căn cứ địa cách mạng.
Trước tình hình khó khăn, Ban Thường vụ Huyện ủy phân công các đồng chí Huyện ủy viên theo dõi các địa bàn quan trọng, trong đó có An Cư, An Mỹ và An Hậu... Đồng thời Huyện ủy kịp thời liên hệ với các xã và huyện đồng bằng tổ chức cứu đói cho đồng bào và đề nghị tỉnh tăng cường lực lượng cho An Lão. Chính quyền và Mặt trận thường xuyển động viên, kịp thời tổ chức cứu đói, cứu đau và đưa một số người già, trẻ em mồ côi gửi nhờ một số gia đình của người dân Hoài Ân chăm sóc giúp. Các trung đội du kích An Cư, An Mỹ và An Hậu được củng cố, xây dựng ngày càng quy củ, vừa tham gia sản xuất cứu đói, vừa chiến đấu chống giặc bảo vệ xóm làng, vừa hình thành trận địa bố phòng vững chắc, lập nhiều chiến công, bảo vệ vùng giải phóng của quê hương[63].
Trong quá trình tổ chức chiến đấu chống địch càn quét, bảo vệ vùng giải phóng ở địa phương xuất hiện một số tập thể và cá nhân lập công xuất sắc. Tiêu biểu là Đội du kích xã An Mỹ với danh hiệu tập thể “kiên cường thắng Mỹ” đã nêu tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, xứng đáng là ngọn cờ đầu của chiến tranh du kích ở miền núi. Đội du kích An Mỹ vừa bám trụ vừa sản xuất để chống giặc và cứu đói, vừa bố phòng, xây dựng trận địa vững chắc nhiều lần chặn địch tại chỗ, đánh địch ngay từ trận đầu khi chúng vừa đến địa phương. Du kích xã An Mỹ vừa độc lập tác chiến vừa phối hợp với đơn vị B2 bộ đội huyện An Lão, tiêu diệt hơn 300 quân địch, làm bị thương 118 quân địch (phần lớn là vũ khí bằng chông), bắn rơi 8 máy bay, thu 8 súng và 2 lần tiêu diệt gọn 2 trung đội lính Mỹ. Hòa nhịp với tiếng súng chống càn quét của du kích xã An Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy mà trực tiếp là Huyện đội An Lão, du kích 18 xã trong huyện cũng lập nhiều chiến công, bảo vệ vùng giải phóng.
Nổi bật nhất là trận chiến đấu chống càn diễn ra tại Gộp đá lớn xã An Mỹ. Sáng ngày 7/4/1967 tại Gộp đá lớn, các du kích Đinh Ruối, Đinh Văn Dua, Đinh Văn Mẫn với trang bị vũ khí đơn sơ (1 khẩu súng trường mác, 1 khẩu tiểu liên, cùng 370 viên đạn), dựa vào địa hình hiểm yếu, tổ chức chiến đấu đẩy lùi tấn công của 1 tiểu đoàn lính Mỹ, có máy bay trực thăng yểm trợ, bảo vệ an toàn tính mạng cho hơn 70 đồng bào. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, địch bắn xối xả và dùng lựu đạn, hỏa mù ném vào hang. Hết đạn các anh dùng lưỡi lê đánh “giáp lá cà” với lính Mỹ. Kết quả, chỉ có 3 chiến sĩ du kích đã tiêu diệt 40 lính Mỹ và làm bị thương 10 tên khác. Đồng chí Đinh Ruối được Nhà nước phong tặng danh hiệu: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam năm 1976. Tại Đại hội Tổng duyệt thi đua tỉnh Bình Định lần thứ V (1968), xã An Mỹ là 1 trong 3 xã được tỉnh tặng Cờ thi đua.
Tháng 01/1968, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, trọng tâm là các đô thị. Mục tiêu là tiêu diệt một phần quân Mỹ, quân thân Mỹ; đánh đòn mạnh vào chính quyền và quân đội Sài Gòn; giành chính quyền về tay nhân dân, buộc Mỹ phải đàm phán và rút quân về nước. Trước những đòn tấn công của cách mạng, Mỹ và chính quyền Sài Gòn buộc phải quyết định rút lực lượng quan trọng ở Bắc Bình Định ra tăng cường cho mặt trận Quảng Trị.
Các cuộc càn quét của địch ở huyện An Lão tuy giảm về số lượng so với năm 1967, nhưng tăng về cường độ đánh phá. Chúng huy động cả bộ binh kết hợp với pháo binh, xe tăng, máy bay yểm trợ, tiến hành càn quét vào vùng giải phóng, trong đó có các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu. Hỗ trợ cho các cuộc càn quét, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiếp tục cho máy bay rải chất độc hóa học xuống địa bàn các xã này làm cho nhiều làng mạc bị hủy diệt, ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của đồng bào. Vài chục đồng bào các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu chết và bị thương, nhiều nhà cửa bị thiêu cháy... Tuy nhiên, trong thời gian này, du kích các xã An Hậu, An Cư và An Mỹ vừa chủ động đánh địch càn quét, bảo vệ xóm làng, vừa tích cực tham gia hỗ trợ các địa phương vùng thấp tổ chức tiến công và nổi dậy vào dịp Tết Mậu Thân 1968.
Cùng với chiến đấu chống giặc giữ làng, dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy An Lão, chi bộ, chính quyền và quân dân các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu ra sức xây dựng địa bàn xã chiến đấu. Chú trọng phát triển đảng viên, củng cố bộ máy chính quyền và các hội, đoàn thể (thanh niên, phụ nữ), nâng cao tư tưởng, ý thức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đi đôi với thực hiện phong trào xây dựng làng xã chiến đấu, phát triển lực lượng du kích, chú trọng công tác huấn luyện, động viên thanh niên lên đường thoát ly, tham gia lực lượng cách mạng, đi dân công tiếp vận, góp phần vào việc tải đạn từ Hoài Ân về địa phương. Vận chuyển lương thực, hàng hóa từ vùng địch chiếm lên vùng căn cứ cách mạng. Thực hiện tốt công tác bố phòng, huy động sức dân, tiến hành đào hầm, vót chông, chuẩn bị mang cung, sẵn sàng chiến đấu...
Trong bối cảnh xóm làng bị địch thường xuyên đánh phá, sản xuất bị đình đốn, hoa màu bị phá hoại, đồng bào thường xuyên thiếu đối. Huyện ủy An Lão chỉ đạo các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu thực hiện nhiều biện pháp cứu đói cho dân, tìm cách liên hệ với vùng thấp để trao đổi hàng hóa, chuyển gạo về giải quyết nạn đói và dự trữ. Cùng với hoạt động chiến đấu giữ làng, quân và dân An Cư, An Mỹ và An Hậu khắc phục khó khăn, bám chắc nương rẫy “quyết một tấc không đi một ly không rời” lấy đêm làm ngày để sản xuất, lấy sức người thay cho sức kéo của trâu, bò... Cây lương thực chủ yếu được trồng là khoai, sắn, ngô để đảm bảo cứu đói cho dân. Sản xuất nông nghiệp củng cố trở lại với việc trồng thêm các cây hoa màu như đậu, lạc, chăn nuôi gà, vịt, trâu, bò từng bước phục hỏi. Bên cạnh đó còn vận động nhiều thanh niên lên đường nhập ngũ, đi dân công, vận chuyển gạo, đạn dược phục vụ cho chiến trường.
Đi đối với sản xuất, các hoạt động văn hóa văn nghệ, giáo dục, xây dựng đời sống mới, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng bệnh, phòng dịch được chính quyền cách mạng các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu quan tâm. Đồng bào từng bước ổn định nơi ăn chốn ở, thực hiện phong trào “3 sạch”, sử dụng phổ biến cây thuốc nam. Ở mỗi xã đều có mở các lớp học do bộ đội dạy cho con em đồng bào; ngoài ra mỗi xã còn cử một số người đi học lớp tiếng dân tộc do huyện tổ chức trong thời gian 6 tháng.
Như vậy, trong những năm 1965 – 1968 là giai đoạn các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu gặp phải nhiều khó khăn thứ thách hết sức ác liệt, bị quân địch càn quét, đánh phá, rải chất độc hóa học, đồng bào bị thiệt rất lớn về tài sản, tính mạng và sức khỏe. Song dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng xã An Hoa[64] (An Cư và An Mỹ) do đồng chí Đinh Văn Chia (tức Đinh Văn Hòi) và tiếp theo là đồng chí Đinh Văn Rĩa (tức Đinh Văn Thơ)[65] làm Bí thư, với truyền thống cách mạng kiến cường, quân và dân ở đây vẫn bám trụ vững vàng, kiên trì tổ chức chiến đấu và tham gia lao động sản xuất, bảo vệ vững chắc địa bàn, đập tan các cuộc hành quân càn quét vùng giải phóng, tiêu diệt các lực lượng vũ trang cách mạng của quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn. Đặc biệt là du kích xã An Mỹ. lập nên chiến công đánh địch tại Gộp đá lớn năm 1967, tiêu biểu là anh hùng Đinh Ruối. Thắng lợi này góp phần cùng quân dân cả nước đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ.
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng cuối cùng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ ở miền Nam Việt Nam cũng đi đến thất bại hoàn toàn. Một phong trào “phản chiến” chống chiến tranh xâm lược Việt Nam, đòi rút hết quân đội về nước đang dâng lên khắp nước Mỹ. Trước tình hình đó, giới cầm quyền Mỹ nhận thấy cần có sự đổi mới về “chiến lược toàn cầu” sao cho ổn định được tình hình trong nước, tránh những đòn đả kích từ nhiều phía, ngay cả của người Mỹ đối với bộ máy chiến tranh, mà vẫn đảm bảo vai trò “sen đầm quốc tế” và giữ được nguyên trạng miền Nam Việt Nam trong quỹ đạo của chủ nghĩa thực dân mới. Đầu năm 1969, ngay sau khi lên cầm quyền, Ních-xơn cho ra đời học thuyết mới, mang tên mình - “Học thuyết Ních-xơn” và ra sức đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Đông Dương. Học thuyết này được vận dụng ở Việt Nam, gọi là “Việt Nam hóa chiến tranh”. Để đạt mục tiêu chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Ních-xơn đã cho thực hiện cùng lúc 3 loại hình chiến tranh là “chiến tranh giành dân”; “chiến tranh hủy diệt”; “chiến tranh bóp nghẹt”, trên cơ sở huy động sức mạnh tối đa về quân sự của Mỹ, kết hợp với những thủ đoạn chính trị ngoại giao vô cùng thâm độc, xảo quyệt.
Có thể nói chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Ních-xơn là một cuộc chiến tranh phản cách mạng toàn diện cả về quân sự, chính trị và kinh tế ác liệt chưa từng thấy nhằm chống lại phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam Việt Nam. Mục tiêu của Mỹ lúc này là giành dân, cướp đất, do đó chúng phải thực hiện tiến công và phản công. Nhưng sau thất bại của các cuộc tiến công và phản công chiến lược, Mỹ buộc phải áp dụng chiến lược “quét và giữ” để phòng ngự, nên chúng không thể thực hiện được mục tiêu. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh”, địch vẫn tương đối mạnh về quân số, hỏa lực, khả năng cơ động và địa bàn chiếm giữ.
Đối với tỉnh Bình Định, Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn coi đây là một trong những địa bàn trọng điểm đánh phá khốc liệt, địch tăng cường lực lượng lên 56.000 tên vào đầu năm 1969, mở liên tiếp 572 cuộc hành quân cướp phá, bắt giết, dồn dân, bắt lính, “bình định”... Ở An Lão, ngay từ đầu năm 1969, địch huy động lực lượng lớn gồm bộ binh, pháo binh, không quân tiến hành nhiều cuộc hành quân càn quét, lùng sục khắp các xã, kết hợp với việc rải chất độc hóa học nhằm phá tan căn cứ cách mạng, tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta. Một lần nữa đồng bào các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu lại phải đối đầu với các cuộc càn quét quy mô lớn, mức độ hủy diệt cao. Hỗ trợ cho các hoạt động càn quét, giết người, cướp phá, tại một số điểm tại các địa phương như núi Một chúng cho đặt các trận địa pháo, thường xuyên bắn phá, khống chế vùng cao.
Tháng 01/1969, Ban Thường vụ Tỉnh ủy họp ra Nghị quyết: Ra sức tiêu diệt sinh lực địch, đánh mạnh phương tiện chiến tranh và giao thông[66]... Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện An Lão, du kích các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu phối hợp với du kích huyện An Lão, bộ đội địa phương kiên quyết đánh trả các cuộc càn quét của địch. Trong 3 tháng đầu năm 1969, du kích các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu đánh nhiều trận, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều quân địch và bắn rơi 5 máy. bay. Trong 2 tháng 4, 5/1969, du kích các xã An Cư, An Mỹ. và An Hậu và bộ đội huyện An Lão chống còn, đánh 32 trận, tiêu diệt gần 300 lính Việt Nam Cộng hòa, bắn rơi hơn 15 máy bay lên thẳng.
Mặc dù chịu nhiều tổn thất, song đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn không từ bỏ âm mưu tiêu diệt các lực lượng cách mạng ở vùng giải phóng An Lão. Giữa năm 1969, Lữ đoàn 173 thay chân Sư đoàn Không vận số 1 đóng chốt tại điểm cao 193 (đồi Núi Một), làm trận địa khống chế cả một vùng rộng lớn. Tháng 8/1969, Mỹ lại đưa thêm 2 lữ đoàn thuộc Sư đoàn 4 bộ binh (Mỹ) từ Gia Lai xuống, mở nhiều cuộc hành quân đánh phá hậu cứ của ta thuộc các huyện An Lão, Hoài Ân, Vĩnh Thạnh. Chúng cho rằng không diệt được căn cứ cơ quan đầu não kháng chiến của tỉnh Bình Định thì không thể khống chế, “bình định” được vùng đồng bằng.
Khoảng cuối năm 1969, địch tập trung lực lượng, phương tiện chiến tranh, máy bay, xe tăng càn quét, khủng bố, đánh phá ác liệt địa bàn các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu. Đi đôi với hành quân càn quét, chúng tổ chức cài cắm gián điệp, chỉ vùng giải phóng để điểm, mật báo viên vào nội bộ của ta đánh phá từ bên trong. Đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, dụ dỗ chiêu hồi, chiêu hàng, lừa bịp quần chúng bằng cách phân phát hàng viện trợ, cấp phát tiền, gạo nhằm lôi kéo đồng bào rời bỏ xóm làng vào sinh sống ở vùng mà chúng kiểm soát. Ở các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu, địch tiếp tục phá hoại mùa màng, đồng bào lâm vào cảnh đói nghèo, dịch bệnh kéo dài.
Với sự càn quét khốc liệt của địch, phong trào cách mạng huyện An Lão gặp nhiều khó khăn, nhiều cơ sở ở nông thôn bị phá vỡ, căn cứ cách mạng bị tấn công, phong trào có phần tạm lắng xuống. Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy An Lão các cán bộ, đảng viên các xã vẫn tiếp tục kiên trì bám đất, bám dân xây dựng và củng cố lực lượng, sẵn sàng đương đầu với chính sách “bình định nông thôn của địch”. Để tăng cường sự lãnh đạo quân dân địa phương chiến đấu chống lại các cuộc hành quân càn quét và hoạt động biệt kích, gián điệp của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, được sự giúp đỡ của Huyện ủy An Lão, khoảng cuối năm 1969 Chi bộ xã An Hậu được thành lập gồm 3 đảng viên do đồng chí Đinh Văn Nhinh[67] làm Bí thư Chi bộ. Đây là Chi bộ thứ hai của vùng đất An Quang (sau Chi bộ xã An Hòa (An Cư và An Mỹ)) được thành lập trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương tiếp tục phát triển và giành thắng lợi.
Dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy An Lão và sự lãnh đạo trực tiếp của 2 Chi bộ: An Hòa và An Hậu, lực lượng du kích và đồng bào tham gia ủng hộ cách mạng ở vùng đất An Quang không ngừng lớn mạnh, thường xuyên phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang huyện, tỉnh, quân khu kiên quyết đánh trả các cuộc hành quân càn quét của địch và lập được nhiều thành tích; tiêu diệt 78 lính và làm bị thương 31 lính, bắn rơi tại chỗ 5 máy bay và bắn hư hỏng 6 chiếc khác... vào cuối năm 1969.
Đầu năm 1970, quân dân An Cư, An Mỹ và An Hậu cùng với các xã bạn phối hợp với bộ đội địa phương bao vây và tiêu diệt nhiều sinh lực địch tại đồi Núi Một. Thất bại tại đồi Núi Một buộc địch tập trung lực lượng, phương tiện chiến tranh hiện đại, như máy bay B52, xe tăng càn quét đánh phá ác liệt vào các vùng đồng bào sinh sống. Từ ngày 19/1 đến ngày 12/2/1971, địch dùng máy bay B52 ném bom, bắn phá và tung biệt kích xuống địa bàn An Cư và An Mỹ. Đối phó tình hình đó, quân dân hai xã phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang huyện đánh trả quyết liệt, góp phần lập nên những chiến công, cùng với toàn huyện tiêu diệt 28 lính Mỹ, 59 lính quân đội Sài Gòn, làm bị thương 1 sĩ quan và bắn hỏng 8 máy bay.
Hưởng ứng phong trào do Huyện ủy An Lão phát động: “Đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau nhằm đẩy mạnh sản xuất, thừa thắng xông lên vượt mọi khó khăn để ổn định dần đời sống nhân dân”[68]. Đồng bào các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu ra sức khắc phục hậu quả của các cuộc ném bom, càn quét, rải chất độc hóa học, xuống đồng ruộng sản xuất, khai hoang phục hóa. Trong những năm 1971 - 1972, ngoài việc đối phó với các hoạt động càn quét, đánh phá của địch, quân dân các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu còn tích cực thi đua sản xuất, thực hiện khai hoang, cải tạo đồng ruộng, nương rẫy. Nhờ sự lãnh đạo và hỗ trợ của Huyện ủy An Lão, sự giúp đỡ của Trường Quân chính Quân khu 5 đóng trên địa bàn vùng đất An Quang, diện tích khai hoang phục hóa của đồng bào ngày càng tăng lên đến 20 ha, sản lượng thu hoạch từ trồng lúa, bắp, khoai lang, mì góp phần đảm bảo cuộc sống nhân dân và hậu cần tại chỗ. Chăn nuôi bắt đầu khôi phục và phát triển nhanh về số lượng, đàn trâu lên tới vài chục con, giải quyết được vấn đề sức kéo. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vùng đồng bào chưa biết sử dụng trâu bò để cày bừa, chưa biết trồng lúa nước, kết quả sản xuất đạt được còn thấp, có làm nhưng không có thu hoạch.
Thực hiện chủ trương của Đảng về bước đầu thực hiện con đường làm ăn tập thể ở vùng giải phóng, tạo điều kiện cho đồng bào giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong quá trình sản xuất, việc học tập và xây dựng các tổ “vần công hợp tác” trở thành phong trào sâu rộng ở các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu. Được sự hỗ trợ của Huyện ủy, hai Chi bộ An Cư, An Hậu tổ chức đồng bào học tập, quán triệt ý nghĩa, cách thức, cơ cấu tổ chức, sự cần thiết phải lập các tổ hợp tác trong sản xuất nông nghiệp (gọi tắt là Tổ sản xuất). Đến cuối 1972, ở các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu xây dựng được khoảng 8 tổ sản xuất, thu hút hơn 90% lao động tham gia. Hình thức làm ăn tập thể trong bối cảnh có chiến tranh phát huy tính ưu việt của nó, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển.
Phong trào văn hóa văn nghệ được quan tâm, nhất là phong trào xây dựng nếp sống mới, những tập tục lạc hậu mê tín dị đoan có phân giảm. Nhiều đội văn nghệ ở các thôn, làng được thành lập, tập luyện và tổ chức biểu diễn phục vụ đồng bào địa phương và bộ đội, tạo nên không khí vui tươi, sôi nổi. Phong trào bình dân học vụ phát triển, các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu đã cử người tham gia học các lớp bổ túc văn hóa do huyện An Lão tổ chức, rồi về lại địa phương dạy chữ cho đồng bào. Có người được tiếp tục học lên ở các trường sư phạm của tỉnh, quân khu hoặc được đưa ra miền Bắc học tập nâng cao trình độ. Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có sự giúp đỡ của bộ đội đóng trên địa bàn; phong trào vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch, chăm sóc sức khỏe cho người dân được chính quyền chú trọng, nhiều hộ gia đình đạt chỉ tiêu “3 sạch”, dùng chén đũa, uống nước sôi... Việc sử dụng cây thuốc nam để chữa bệnh được nhân rộng, từng bước bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan. ..
Công tác xây dựng Đảng và chính quyền cách mang được quan tâm. Nhiều thanh niên nam nữ của các xã được tập hợp và gia nhập tổ chức Đoàn; trên cơ sở đó để phát triển đảng viên. Trong thời gian này, việc kết nạp vào tổ chức Đoàn và tổ chức Đảng được thực hiện nghiêm túc, đúng thủ tục, có cán bộ, đoàn viên, đảng viên được phân công bồi dưỡng, giúp đỡ và chịu trách nhiệm giới thiệu quần chúng vào Đoàn, vào Đảng. Số lượng đảng viên của 2 Chi bộ An Hòa (An Cư và An Mỹ), An Hậu đến cuối năm 1972 khoảng 20 đồng chí.
Như vậy, trong những năm 1969 - 1972, đồng bào các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu nói riêng, huyện An Lão nói chung phải đối đầu với nhiều khó khăn, thử thách, trở thành một trong những trọng điểm đánh phá ác liệt của địch. Các cuộc càn quét, mưa bom, bão đạn, chất độc hóa học, bao vây cấm vận và những liều thử cho sức mạnh và ý chí quật cường của 2 chi bộ Đảng và đồng bào. Vượt lên những khó khăn, nhân dân các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu vừa chiến đấu, vừa tổ chức sản xuất đảm bảo cuộc sống, từng bước đập tan mọi mưu đồ thâm độc, nham hiểm của kẻ thù. Du kích các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu có bước trưởng thành vượt bậc về số lượng và chất lượng.
Những thắng lợi của quân dân các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu cùng với quân dân toàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định và thắng lợi vang dội của quân dân ta ở 2 miền Nam - Bắc, đặc biệt là thắng lợi trong cuộc Tổng công kích Xuân Hè 1972 ở miền Nam và thắng lợi trong trận “Điện Biên Phủ trên không” ở miền Bắc buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27/01/1973 và 2 tháng sau, tức ngày 29/3/1973 phải rút hết quân về nước. Nhưng vì muốn giữ thể diện, danh dự và quyền lợi, Mỹ vẫn chưa từ bỏ âm mưu thôn tính Việt Nam. Thực hiện ý đồ đen tối đó, khi rút quân đội, Mỹ giữ lại hơn 2 vạn cố vấn quân sự đội lốt dân sự và tiếp tục viện trợ quân sự, tiền bạc cho quân ngụy, ra sức giúp chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tăng cường lực lượng về mọi mặt như giúp chính quyền Sài Gòn xây dựng quân đội, tăng cường bắt lính. Tiếp tục nhận viện trợ của Mỹ và được cố vấn Mỹ chỉ huy, chính quyền Sài Gòn ra sức phá hoại Hiệp định Pa-ri.
Với một kế hoạch chiến tranh được sắp xếp ngay trước khi ký Hiệp định Pa-ri, chính quyền Sài Gòn huy động gần như toàn bộ lực lượng tiến hành chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, liên tiếp mở những cuộc hành quân lấn chiếm các vùng do Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam kiểm soát. Đồng thời, chúng đẩy mạnh các hoạt động bao vây kinh tế, hoạt động gián điệp, biệt kích, chiến tranh tâm lý. Mục đích là giành dân, chiếm đất, mở rộng vùng kiểm soát, thu hẹp và đi đến xóa bỏ vùng giải phóng. Tại các vùng do chúng kiểm soát ở miền Nam, địch ráo riết “bình định”, “thanh lọc”, đôn quân, bắt lính, cưỡng bức nhân dân, giết hại nhiều người yêu nước, bắt bớ giam cầm những người chống đối. Thực chất là chúng tiếp tục tiến hành “Việt Nam hóa chiến tranh” chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân. Tại Bình Định, ngay trước giờ Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, địch huy động 60% số quân hiện có ở các địa phương với các chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, lấy “bình định” và “lấn chiếm” nhằm xóa “thế da báo” làm mục tiêu trọng tâm số một.
Đầu tháng 7/1973, Tỉnh ủy họp hội nghị mở rộng nhằm quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phương hướng nhiệm vụ của cách mạng miền Nam (24/5/1973) và Nghị quyết Thường vụ Khu ủy khu V. Hội nghị chủ trương: “Đánh bại âm mưu lấn chiếm và bình định của địch là nhiệm vụ trung tâm cấp thiết của Đảng bộ và quân dân trong tỉnh hiện nay”[69].
Trong giai đoạn 1973 - 1975, An Lão tuy không trực tiếp đối đầu với các cuộc càn quét có quy mô lớn của địch vì là nơi cách xa trung tâm; song để phá hoại vùng căn cứ cách mạng ở huyện An Lão, địch tiếp tục sử dụng nhiều thủ đoạn khác như tổ chức các cuộc càn quét nhỏ, thời gian ngắn ở các vùng giáp ranh; đổ biệt kích tiến hành lùng sục, quấy phá; sử dụng máy bay ném bom, bắn phá, rải chất độc hóa học; rải truyền đơn, thực hiện chiến tranh tâm lý, tuyên truyền phản động, chiêu hàng... Chúng không thể càn quét dài ngày, nhưng nơi đây là đường chiến lược nối liền với đồng bằng nên chúng tiếp tục cho biệt kích, gián điệp lùng sục, trà trộn vào dân để phát hiện những cơ quan, kho tàng, nơi đóng quân của ta để đánh phá chớp nhoáng, dùng phi pháo và ném bom... Ở các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu chúng còn dùng chiến tranh tâm lý để lung lay tinh thần của cán bộ và nhân dân, làm mất ổn định cuộc sống và gây khó khăn cho ta trong việc xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Trước tình hình đó, dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy An Lão và sự lãnh đạo trực tiếp của 2 chi bộ đảng địa phương, nhân dân các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu ngày càng đoàn kết, nắm rõ âm mưu của kẻ thù, tiếp tục bảo vệ và xây dựng vùng giải phóng. Họ cùng nhau giúp đỡ ổn định nơi ăn chốn ở; tiêu biểu như đồng bào An Cư và An Mỹ sẵn sàng tạo điều kiện hỗ trợ phương tiện, nông cụ sản xuất cho đồng bào An Hậu, An Nghĩa, An Toàn khi mới trở về làng cũ làm ăn, sinh sống. Thực hiện chủ trương của Huyện ủy An Lão, chi bộ và chính quyền cách mạng các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu phân công cán bộ, đảng viên, du kích vận động đồng bào hưởng ứng tham dự cuộc mít tinh do Huyện ủy tổ chức (28/01/1973) chào mừng ngày ký kết hiệp định hòa bình.
Khoảng đầu năm 1973, Hội nghị Huyện ủy An Lão mở rộng được triệu tập và nhận định: “Mỹ - ngụy đã thất bại nặng nề, phải ký Hiệp định Pa-ri, nhưng với bản chất xâm lược thực dân mới, chúng đã vi phạm trắng trợn điều khoản của Hiệp định, phá hoại hòa bình, ra sức càn quét, lấn chiếm vùng giải phóng”[70]. Hội nghị xác định nhiệm vụ trung tâm của Đảng bộ là: “Đẩy mạnh việc thực hiện 5 phong trào[71], tổ chức cho nhân dân học tập về nội dung Hiệp định Pa-ri, về chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng”[72].
Triển khai thực hiện nghị quyết của Huyện ủy, chi bộ, chính quyền đẩy mạnh tuyên truyền nội dung Hiệp định Pa-ri đến toàn thể đồng bào, giúp đồng bào thấy rõ nội dung, ý nghĩa của hiệp định, đồng thời vạch trần âm mưu, tố cáo tội ác của địch, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, chống biệt kích, chống chiến tranh tâm lý. Thông qua đó, giúp đồng bào tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào cách mạng. Chi bộ và chính quyền thôn, làng còn chỉ đạo, hướng dẫn đồng bào, chủ động, tích cực đối phó với âm mưu bắn phá, thả bom của địch; xây dựng hầm chống phi pháo, di tản dân khi cần thiết. Thực hiện tốt hoạt động nuôi giấu cán bộ, đảng viên, bảo vệ và hỗ trợ các lực lượng cách mạng, thương binh đứng chân trên địa bàn, đối phó với âm mưu săn lùng, truy quét của địch.
Ngày 26/8/1974, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện An Lão lần thứ VII được triệu tập, xác định nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng bộ là “Tích cực lãnh đạo toàn dân và toàn quân trong huyện ra sức thực hiện 4 cuộc vận động lớn của Đảng bộ: Vận động đẩy mạnh sản xuất, nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế toàn diện; Vận động cải tiến kỹ thuật canh tác, tăng nhanh tổng sản lượng lương thực, thực phẩm; Vận động cải tạo tư tưởng, văn hóa, xã hội, xóa bỏ từng bước tập quán lạc hậu, nghèo nàn, xây dựng tư tưởng làm chủ tập thể Tiếp tục vận động cải tạo, củng cố quan hệ sản xuất mới, phát huy quan hệ sản xuất làm chủ tập thể”[73]...
Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện An Lão, chi bộ và chính quyền cách mạng các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu xác định nhiệm vụ của địa phương là phải chủ động đối phó với các âm mưu đánh phá của địch, bảo vệ vùng giải phóng, ra sức thực hiện các phong trào do Huyện ủy phát động, xây dựng vùng giải phóng, hỗ trợ cho quân dân cả nước đập tan âm mưu của Mỹ và tay sai, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đáp ứng yêu cầu lãnh đạo và tổ chức nhân dân thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội, chi bộ chú trọng củng cố hệ thống chính trị, xây dựng Đảng, chính quyền và các ban chuyên môn và mặt trận giải phóng. Cán bộ, đảng viên được quán triệt chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện, không ngừng nâng cao lập trường, quan điểm, vững vàng trước mọi âm mưu của địch, lãnh đạo và đi đầu trong các phong trào.
Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Huyện ủy, các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế, thực hiện cho được “hai đủ” (đủ ăn, đủ mặc) và “bốn có” (có đường đi, có nhà ở, có sức khỏe, có học hành); phát động phong trào “khai hoang phục hóa” trong toàn dân. Công tác thủy lợi được quan tâm hàng đầu, các xã có kế hoạch tiến hành đào vét kênh mương, lấy nước từ sông suối, giải quyết được một số diện tích thiếu nước. Các xã còn quan tâm chỉ đạo kỹ thuật chăm sóc cây trồng, vật nuôi; sử dụng phân chuồng và phân hóa học cho đồng ruộng để tăng năng suất cây trồng và được nhân dân, bà con hưởng ứng rộng rãi; sử dụng thuốc trừ sâu để phòng ngừa và diệt trừ sâu bệnh cho lúa; củng cố tổ chức các tổ hợp tác, tổ chức cho các xã viên học tập điều lệ và nội quy của tổ hợp tác sản xuất, nâng cao tinh thần làm chủ, ý thức trách nhiệm, sự giúp đỡ hỗ trợ nhau trong lao động.
Năm 1974, phong trào sản xuất có bước phát triển rõ rệt, so với năm 1973, nhất là vấn đề khai hoang phục hóa, sản xuất mì, bắp... Lúa nước, lúa rẫy, cây mì, bắp là những cây trồng được chú ý sản xuất, diện tích, năng suất, sản lượng tăng; góp phần cứu đói và đảm bảo nhu cầu lương thực tại chỗ, cùng với các xã khác trong huyện, thực hiện đạt chỉ tiêu sản xuất lương thực được giao. Riêng cây lúa, năm 1974 năng suất bình quân khá; tính chung cả lúa, mì, bắp bình quân mỗi nhân khẩu đạt khoảng 500 kg/năm. Chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng dần khôi phục và phát triển về số lượng, giải quyết được sức kéo. Công tác mậu dịch giao thương hàng hóa bước đầu đáp ứng các nhu yếu phẩm cần thiết phục vụ đời sống đồng bào. Có sự trao đổi hàng hóa giữa đồng bào địa phương với bộ đội đóng trên địa bàn, tạo nên tình đoàn kết quân dân thắm thiết.
Đặc biệt là quan hệ sản xuất mới bước đầu được củng cố, nhân dân ngày càng tin tưởng vào chính quyền cách mạng và sẵn sàng ủng hộ cách mạng. Phong trào làm ăn tập thể tiếp tục duy trì và phát triển. Các tổ hợp tác được củng cố, quản lý chặt chẽ hơn, thu hút đông đảo lao động tham gia. Mỗi xã đều phân công một đồng chí cấp ủy chuyên trách, ở mỗi tổ sản xuất, có tổ trưởng, tổ phó và thư ký. Các cán bộ hầu hết có tinh thần trách nhiệm cao, chăm lo sản xuất và đời sống của tổ viên. Công tác “3 quản” bước đầu được triển khai, gồm quản lý sản xuất, quản lý lao động và quản lý phân phối sản phẩm. Nhìn chung, các tổ hợp tác đã biết bám chỉ tiêu, kế hoạch và xây dựng phương án sản xuất cho từng tổ, thực hiện tốt kế hoạch phân phối sử dụng lao động hợp lý, bình công chấm điểm, khoán từng khâu công việc... Các tổ hợp tác góp phần huy động nguồn nhân lực vào khai hoang phục hóa, đẩy mạnh sản xuất phát triển.
Về giáo dục, thực hiện chủ trương của Huyện ủy, chi bộ, chính quyền các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu đẩy mạnh phong trào học tập văn hóa rộng rãi trong toàn cán bộ, đảng viên và nhân dân. Những cán bộ biết chữ cũng tích cực dạy cho những người để học và biết chữ. Các xã tiếp tục cử cán bộ, đảng viên tham gia học tập các lớp sư phạm do tỉnh, khu tổ chức; sau khi tốt nghiệp trở về dạy học cho con em địa phương; một số lớp học tiểu học được mở ra và duy trì tổ chức dạy học cho con em đồng bào.
Về công tác y tế, nổi bật là phong trào vệ sinh phòng bệnh, duy trì được nếp sống “ba sạch”, từng bước đẩy lùi mê tín dị đoan và các tập tục lạc hậu. Cán bộ, đảng viên thật sự gương mẫu đi đầu để làm gương cho phong trào. Chính quyền xã, thôn phối hợp với bộ phận y tế của huyện An Lão và các đơn vị bộ đội tổ chức khám chữa bệnh cho đồng bào; hướng dẫn đồng bào giữ gìn vệ sinh, như làm hố xí, đưa chuồng heo, chuồng bò ra cách xa nhà. Hoạt động thông tin tuyên truyền về đường lối, chủ trương của Đảng và những thắng lợi của quân và dân ta trên các chiến trường, âm mưu và thủ đoạn của địch được tiến hành kịp thời. Phong trào “tiếng hát át tiếng bom”, công tác văn nghệ được chú trọng, đội văn nghệ các xã vẫn được duy trì và củng cố, tổ chức các buổi biểu diễn phục vụ đồng bào thu hút nhiều lượt người xem.
Bên cạnh công tác chỉ đạo sản xuất, xây dựng đời sống mới và sẵn sàng chiến đấu, công tác an ninh cũng được tăng cường chỉ đạo ngày càng chặt chẽ hơn. Bước đầu tăng cường đăng ký hộ khẩu, tổ chức kiểm soát giấy tờ, xác minh và giải quyết những vụ việc vi phạm quy ước nông thôn nhằm bảo vệ tốt an ninh trật tự khu căn cứ. Chi bộ đảng, chính quyền các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu còn vận động nhân dân sửa chữa các tuyến đường trong xã bị địch ném bom hư hại. Huy động hàng trăm ngày công, hỗ trợ cho huyện An Lão xây dựng các công trình, làm đường, vận chuyển vũ khí, lương thực, hàng hóa ra tiền tuyến. Tiếp tục xây dựng, phát triển lực lượng du kích địa phương về số lượng và chất lượng, vót chông và chuẩn bị các loại vũ khí thô sơ khác, sẵn sàng phòng chống giặc. Chủ động phối hợp với lực lượng vũ trang và dân quân du kích huyện đánh chặn các nhóm biệt kích của địch đổ bộ xuống địa bàn xã, ngăn chặn âm mưu phá hoại của địch, bảo vệ an toàn vùng giải phóng.
Những thắng lợi trên mặt trận kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự của quân và dân các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu trong những năm 1973 - 1974 có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần đập tan âm mưu của địch, bảo vệ vùng giải phóng. Tuy còn khó khăn, đời sống đồng bào còn thiếu thốn, song những thắng lợi đó tạo điều kiện cho quân dân các xã góp phần chi viện sức người, sức của cho tỉnh và cả nước, tiến tới giải phóng hoàn toàn tỉnh Bình Định và miền Nam, thống nhất đất nước.
Đầu năm 1975, địch rơi vào thế yếu, nhất là sau chiến thắng Phước Long (6/01/1975), Bộ Chính trị đưa ra kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 và 1976, nhưng nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Phương châm: thần tốc, táo bạo, bất ngờ, đánh nhanh, thắng nhanh để đỡ thiệt hại về người và của cho dân, giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh. Mặc dù liên tiếp bị thất bại, song chính quyền Sài Gòn vẫn tiếp tục âm mưu và thủ đoạn phá hoại Hiệp định Pa-ri. Trên địa bàn huyện An Lão chúng vẫn dùng máy bay thả bom Đường số 5 thuộc xã An Lạc, cho máy bay bắn phá ban đêm ở một số xã như Ân Hòa (hiện nay là An Hòa và An Tân), An Mỹ, An Cư. Ngoài ra chúng còn dùng chiến tranh tâm lý và biệt kích để phá hoại ta ở vùng giải phóng. Những hoạt động trên của địch không gây cho ta những thiệt hại lớn, song vẫn ảnh hưởng đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công tác xây dựng và sản xuất nói chung.
Phát huy thắng lợi năm 1974, Đảng bộ huyện An Lão tiếp tục lãnh đạo các xã, trong đó có An Cư, An Mỹ và An Hậu thi đua sản xuất và chiến đấu. Trong sản xuất, vẫn tiếp tục duy trì phong trào khai hoang phục hóa, cấy hết diện tích, từng bước áp dụng biện pháp kỹ thuật canh tác thâm canh, chăm bón, đặc biệt là phong trào làm và sử dụng phân xanh, phân chuồng để bón cho các loại cây trồng. Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp tương đối toàn diện, nhất là các tổ hợp tác sản xuất phát triển ngày càng được củng cố và duy trì vững chắc hơn. Nhờ vậy, trong năm 1975 các xã đã gieo cấy được gần 30 ha lúa. Các loại cây hoa màu khác cũng được quan tâm phát triển.
Lực lượng du kích các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu sẵn sàng chiến đấu chống lại các cuộc tấn công địch, bảo vệ vùng giải phóng, động viên đồng bào an tâm sản xuất, tích cực thực hiện tốt mọi mặt công tác. Thực hiện lệnh “tổng công kích, tổng khởi nghĩa” của Tỉnh ủy Bình Định, ngày 23/3/1975, huyện An Lão nói chung, các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu nói riêng đã động viên hàng trăm thanh niên lên đường chiến đấu đánh địch ở phía Nam của tỉnh, góp phần giải phóng thị xã Quy Nhơn và hoàn toàn tỉnh Bình Định ngày 31/3/1975.
Trải qua 21 năm (1954 - 1975) kháng chiến chống Mỹ cứu nước, địa bàn các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu luôn đối mặt với nhiều âm mưu thủ đoạn của địch, các cuộc càn quét, đánh phá, thả bom, rải chất động hóa học... thường xuyên đe dọa đến tính mạng và tài sản của đồng bào... Khó khăn chồng chất, nhưng chi bộ đảng, chính quyền, du kích và đồng bào ở đây luôn mưu trí, dũng cảm, lấy rừng, lấy thôn làng làm chỗ dựa, kiên cường bám trụ “một tấc không đi, một ly không rời”, kiên quyết đánh địch.
Từ năm 1960, các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu về cơ bản đã giải phóng, trở thành căn cứ cách mạng, nơi đứng chân của lực lượng vũ trang Quân khu V và tỉnh Bình Định, vừa là cửa ngõ quan trọng vận chuyển hàng hóa, lương thực, vũ khí đồng bằng lên miền núi, là nơi cung cấp vũ khí, đạn dược cho chiến trường huyện Hoài Ân. Từ đây quân dân An Cư, An Mỹ và An Hậu vừa xây dựng vùng giải phóng, chi viện cho tiền tuyến, vừa phối hợp với các lực lượng cách mạng liên tục tổ chức các trận đánh, bẻ gãy và chặn đứng các cuộc càn quét của địch, góp phần giải phóng huyện An Lão, tỉnh Bình Đình và giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Ba mươi năm (1945 - 1975) không phải là dài, nhưng đối với chi bộ, chính quyền, cán bộ, đảng viên và nhân dân An Cư, An Mỹ và An Hậu là chặng đường đầy khó khăn thử thách, phải đối đầu liên tiếp hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, với những kẻ thù mạnh về tiềm lực, thâm độc về thủ đoạn.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi, các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu trở thành hậu phương của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), vùng tự do An Cư, An Mỹ và An Hậu được xây dựng vững mạnh toàn diện, đồng bào ra sức thực hiện nghĩa vụ hậu phương, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, đập tan mọi âm mưu đánh phá của địch, bảo vệ vững chắc hậu phương, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chi bộ, chính quyền và nhân dân An Cư, An Mỹ và An Hậu tiếp tục đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách mới. Các cuộc càn quét, giết người, cướp của đi đôi với các hoạt động bắn phá, thả bom, rải chất độc hóa học, làm cho mảnh đất An Cư, An Mỹ và An Hậu luôn bị đe dọa nghiêm trọng. Tuy vậy dưới sự lãnh đạo của chi bộ, đồng bào An Cư, An Mỹ và An Hậu vẫn kiên cường bám trụ, quyết bám giữ quê hương chống lại quân thù. Quân dân An Cư, An Mỹ và An Hậu vừa chủ động đánh giặc, làm thất bại mọi âm mưu đánh phá của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, đồng thời vừa xây dựng quê hương vững mạnh về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu về vật chất và tinh thần của đồng bào, bảo vệ các lực lượng cách mạng, hỗ trợ và có nhiều đóng góp cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, góp phần cùng huyện, tỉnh và cả nước giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Chương III
AN QUANG TRONG SỰ NGHIỆP
XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (1975 - 2015)
I. ỔN ĐỊNH TÌNH HÌNH, KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG - AN NINH (1975-1985)
1. Những tháng đầu tiên sau ngày tỉnh Bình Định hoàn toàn giải phóng (31/3/1975 - 12/1975)
Sau ngày tỉnh Bình Định hoàn toàn giải phóng (31/3/1975), huyện An Lão nói chung và các xã nói riêng đứng trước những thuận lợi cơ bản, song cũng gặp không ít khó khăn thách thức.
Về mặt thuận lợi, các xã An Cư, An Mỹ, An Hậu và An Nghĩa là những địa phương được giải phóng sớm của huyện An Lão và của tỉnh Bình Định. Ngay trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng cùng với tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội ở đây đã hình thành và có bước phát triển đáng kể, tạo cơ sở nền tảng cho công cuộc xây dựng quê hương sau ngày giải phóng. Lực lượng ngụy quân, ngụy quyền là người địa phương sau giải phóng không nhiều, họ tích cực tham gia học tập, cải tạo và không có thái độ chống đối. Tình hình an ninh, trật tự tương đối ổn định, các tàn dư của chế độ cũ như cờ bạc, rượu chè, trộm cắp không đáng kể nên không gây bất ổn trong cộng đồng dân cư. Quê hương không còn sự đe dọa bom đạn của kẻ thù, nhân dân được sống trong không khí hòa bình, có điều kiện xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội. Niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương ngày càng nâng cao; tạo cơ sở nền tảng để phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong giai đoạn mới. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cơ sở đảng và chính quyền cách mạng ở các xã An Cư, An Mỹ, An Hậu và An Nghĩa từng bước trưởng thành về nhiều mặt. Bộ máy chính quyền được xây dựng vững chắc, đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện và thử thách qua thực tiễn... Về cơ bản tổ chức đảng và bộ máy chính quyền cách mạng sau ngày 31/3/1975 đến trước khi sáp nhập xã (tháng 3/1976) vẫn giữ nguyên như trong những năm trước đó[74].
Trong khi đó, chính quyền và nhân dân các xã luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ kịp thời về nhiều mặt của cấp ủy đảng, chính quyền cấp trên, trực tiếp là Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện An Lão. Đồng bào các dân tộc Hrê, Bana và Kinh có truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm, được tôi luyện và thử thách trong gian khổ ác liệt của 2 cuộc kháng chiến. Tiềm năng về tài nguyên đất đai, rừng, sông suối, khoáng sản... chưa được khai thác. Đây chính là những thuận lợi cơ bản của xã An Quang sau khi được thành lập.
Bên cạnh những thuận lợi, sau ngày tỉnh Bình Định hoàn toàn giải phóng các xã An Cư, An Mỹ, An Hậu và An Nghĩa nói riêng và huyện An Lão nói chung đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Hậu quả chiến tranh để lại rất nặng nề, nhiều nhà cửa, làng mạc, ruộng đồng, tài sản, trâu bò bị tàn phá; nhiều người con của quê hương đã chiến đấu và hy sinh để bảo vệ Tổ quốc, nhiều người dân bị thương tật do bom đạn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Địa hình rừng núi phức tạp, việc đi lại gặp khó khăn; dân cư thưa thớt, phân bố không đều. Nền kinh tế chủ yếu là nương rẫy, tự cung, tự cấp; quen với tập quán canh tác lạc hậu, năng suất thấp; ruộng đất phần lớn là hoang hóa. Các hộ đồng bào chủ yếu sinh sống ở vùng cao, du canh du cư, đời sống rất bấp bênh, thường xuyên bị thiếu ăn, đói rét...
Thiên tai, bão lụt và dịch bệnh đe dọa cuộc sống của người dân. Đội ngũ cán bộ, đảng viên thiếu về số lượng và yếu về năng lực quản lý. Trình độ dân trí còn thấp, số người mù chữ vẫn còn chiếm tỷ lệ cao, trường lớp không có, đội ngũ làm công tác giáo dục thiếu trầm trọng. Điều kiện khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân gần như là con số không. Các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan trong đồng bào còn khá phổ biến. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của địa phương còn diễn biến phức tạp. Lợi dụng tình hình khó khăn của địa phương, một số phần tử xấu đã tuyên truyền, kích động, chống lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là chủ trương vận động đồng bào từ vùng cao xuống vùng thấp để ổn định cuộc sống, sản xuất.
Tình hình trên đặt ra nhiệm vụ trước mắt cho tổ chức đảng, chính quyền, và nhân dân các xã An Cư, An Mỹ, An Hậu và An Nghĩa trong những tháng đầu tiên sau giải phóng là phải nhanh chóng ổn định tình hình kinh tế - xã hội, trật tự trị an và chăm lo đời sống cho nhân dân. Trước hết, để giúp cho đồng bào vượt qua những khó khăn trước mắt, chính quyền cách mạng các xã tổ chức tiếp nhận sự hỗ trợ, chi viện tích cực của tỉnh Bình Định và các huyện đồng bằng. Thóc gạo, muối, các loại đồ dùng thiết yếu như chăn, màn, dầu hỏa... được chính quyền địa phương kịp thời tiếp nhận, phân phối và chuyển đến các hộ gia đình. Phong trào “lá lành đùm lá rách”, “nhường cơm sẻ áo” được phát động rộng khắp trên địa bàn các xã.
Song song với việc giải quyết cho đồng bào các điều kiện ăn ở, tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng triển khai nhiều biện pháp để khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, giữ vững thành quả cách mạng, nâng cao đời sống cho nhân dân. Quán triệt Chỉ thị ngày 25/4/1975 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định về những nhiệm vụ cấp bách sau ngày giải phóng, tháng 6/1975, Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ huyện An Lão ra nghị quyết về việc chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội, xác định “nhiệm vụ trọng tâm là đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp; coi khai hoang, phục hóa, thủy lợi là nhiệm vụ số một, nhằm sản xuất ra nhiều lương thực, thực phẩm cải thiện đời sống nhân dân”[75]. Triển khai nghị quyết của Huyện ủy, tổ chức đảng và chính quyền các xã An Cư, An Mỹ, An Hậu và An Nghĩa phát động nhân dân tích cực khai hoang phục hóa, phát quang ruộng rẫy để trồng tất cả các loại cây lương thực như lúa, mì, khoai lang, chuỗi,... vận động nhân dân tham gia làm thủy lợi, làm mương đắp đập lấy nước, tạo không khí thi đua sôi nổi, khẩn trương khắp nơi. Mặc dù điều kiện lao động, sản xuất còn nhiều khó khăn, công cụ lao động còn thiếu thốn, nhưng trong thời gian ngắn nhân dân các xã đẩy mạnh khai hoang được 28 ha đất trồng, trong đó xã An Hậu là 1 trong 8 xã đạt thành tích tốt nhất.
Tăng cường phát triển sản xuất nông nghiệp, các cấp ủy đảng, chính quyền xã vận động nhân dân thực hiện nạo vét, khơi thông các mương cũ, đào thêm mương mới để đảm bảo sản xuất, phát động phong trào làm phân xanh, phân chuồng, góp phần tăng cường diện tích canh tác, năng suất cây trồng. Các đoàn thể và chính quyền thôn, xã hướng dẫn cho nhân dẫn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, mở rộng diện tích trồng lúa nước, các loại cây có củ, có hạt, các loại rau màu, đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm theo từng hộ gia đình, từng khẩu.
Trong không khí phấn khởi sau ngày giải phóng, chi bộ và chính quyền các xã An Cư, An Mỹ, An Hậu và An Nghĩa ra sức lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất; đồng thời khuyến khích, kêu gọi giúp đỡ nhau trong quá trình lao động, từ trâu bò, phân bón, giống lúa đến ngày công. Trong cơ cấu cây trông thì ngoài sản xuất lúa, chính quyền xã còn vận động nhân dân trồng mì, khoai, bắp, dứa,... góp phần làm cho tình trạng thiếu lương thực được giảm bớt.
Chính quyền cách mạng các xã lựa chọn một số cán bộ đưa đi học tập kinh nghiệm về sản xuất nông nghiệp do cấp trên tổ chức để vận dụng tại địa phương. Tuy nhiên, trong sản xuất nông nghiệp ở các xã vẫn còn gặp một số khó khăn như giống, vốn, nông cụ,... Nhằm giải quyết phần nào khó khăn trên, chính quyền các xã làm báo cáo đề nghị huyện An Lão hỗ trợ lúa giống, vốn để nhân dân an tâm sản xuất và phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm...
Chưa tròn một năm từ sau ngày tỉnh Bình Định hoàn toàn giải phóng (31/3/1975) đến trước khi sáp nhập thành xã An Quang; mặc dù còn nhiều khó khăn, song dưới sự lãnh đạo của chi bộ và chính quyền cách mạng các xã, cộng với tinh thần lao động cần cù, chịu khó của đồng bào, mỗi xã cũng gặt hái được những thành quả ban đầu rất quan trọng; tạo cơ sở nền tảng vững chắc cho xã An Quang hình thành và tiếp tục phát triển đi lên.
2. Xã An Quang thành lập; xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể (1976 - 1985)
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị[76], tháng 10/1975 tỉnh Bình Định và tỉnh Quảng Ngãi hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình. Để quán triệt và tạo sự đồng thuận trong thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Huyện ủy, Uy ban nhân dân nhập tỉnh, nhập huyện, nhập xã, nhập thôn, nhập tổ cho cán bộ, huyện An Lão tiến hành cuộc vận động, phổ biến chủ trương đảng viên và đồng bào, tạo cơ sở cho quá trình sáp nhập các đơn vị hành chính cũng như đề ra và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương trong giai đoạn mới.
Tháng 01 năm 1976, tỉnh Nghĩa Bình tiến hành hợp nhất một số huyện, trong đó có việc hợp nhất huyện An Lão với huyện Hoài Ân thành huyện Hoài An. Cùng với đó, 18 xã của huyện An Lão được sáp nhập thành 6 xã mới, trong đó 4 xã An Cư, An Mỹ, An Hậu và An Nghĩa hợp thành xã An Quang[77]. Khi mới thành lập, xã An Quang được bố trí, sắp xếp lại có 9 thôn với khoảng 300 hộ và gần 1.500 nhân khẩu.
Trong quá trình sáp nhập về mặt hành chính, dân cư thì việc xây dựng, củng cố tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng cũng được triển khai thực hiện. Dưới sự chỉ đạo, giúp đỡ, hỗ trợ kịp thời của các cấp ủy Đảng, chính quyền, trực tiếp là Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện Hoài An; sự cố gắng nỗ lực của cán bộ, đảng viên và nhân dân, hệ thống chính trị của xã An Quang từng bước được hình thành.
Về tổ chức Đảng
Sau khi xã An Quang thành lập, thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy, 3 chi bộ (An Hòa, An Hậu và An Nghĩa) được sáp nhập thành Chi bộ xã An Quang, có khoảng 20 đảng viên. Theo quyết định của Huyện ủy Hoài An, Chi ủy lâm thời của Chi bộ xã An Quang gồm 3 người do đồng chí Đinh Văn Đo (còn gọi Đinh Văn Rân) - cán bộ tăng cường từ huyện về làm Bí thư Chi bộ, đồng chí Đinh Văn Thơ (Rĩa) làm Phó Bí thư Chi bộ, phụ trách chính quyền và đồng chí Đinh Văn Chi (Biên) làm Chi ủy viên.
Sau khi thành lập, Chi bộ xã An Quang tổ chức hội nghị và xác định phương hướng, nhiệm vụ công tác của địa phương trong thời gian trước mắt là: Tiếp tục khắc phục hậu quả chiến tranh, khai hoang phục hóa, phát triển sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề thiếu lương thực, ổn định đời sống nhân dân. Phát triển văn hóa - xã hội địa phương, trong đó chú trọng thực hiện xóa mù chữ, chăm sóc sức khỏe và ổn định chỗ ở cho nhân dân trong xã. Đẩy mạnh xây dựng, kiện toàn bộ máy lãnh đạo của Đảng và chính quyền cách mạng địa phương, phát triển các hội, đoàn thể quần chúng. Cùng với đó là thực hiện đảm bảo, giữ vững quốc phòng - an ninh tại địa phương.
Sau hơn một năm thành lập, khoảng tháng 5/1977, Đại hội Chi bộ xã An Quang, nhiệm kỳ 1977 - 1979 diễn ra tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã. Đại hội tổng kết, đánh giá những kết quả đạt được từ sau ngày giải phóng, nhất là từ khi thành lập xã An Quang đến nay; nêu lên hạn chế và nguyên nhân của nó; trên cơ sở đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ của Chi bộ trong thời gian tới. Đại hội bầu ra cấp ủy chính thức gồm 3 đồng chí, đồng chí Đinh Văn Thơ (Rĩa) được bầu làm Bí thư Chi bộ[78], đồng chí Đinh Văn Tám (Ruông) được bầu làm Phó Bí thư Chi bộ và đồng chí Đinh Văn Chi (Biên) tiếp tục được bầu làm Chi ủy viên.
Khoảng giữa năm 1979, Đại hội Chi bộ xã An Quang, nhiệm kỳ 1979 - 1982 diễn ra tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã. Đại hội tổng kết, đánh giá những thành tựu đạt được của nhiệm kỳ 1977 - 1979, phân tích những hạn chế và nguyên nhân của nó; trên cơ sở đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ của Chi bộ trong nhiệm kỳ 1979 - 1982. Đại hội bầu ra Cấp ủy chi bộ gồm 5 đồng chí, đồng chí Đinh Văn Thơ (Rĩa) tiếp tục được bầu làm Bí thư Chi bộ, đồng chí Đinh Văn Tám (Ruông) tiếp tục được bầu làm Phó Bí thư Chi bộ, phụ trách công tác chính quyền, đồng chi Đinh Văn Biên tiếp tục được bầu làm Chi ủy viên.
Sau Đại hội, Chi ủy Chi bộ tiến hành củng cố các tổ đảng ở từng thôn, tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, chú ý bồi dưỡng và phát triển đảng viên, kịp thời lãnh đạo địa phương thực hiện những nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Nhanh chóng triển khai thực hiện Chỉ thị số 83-CT/TW ngày 26/11/1979 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc phát thẻ đảng viên. Theo sự chỉ đạo của Huyện ủy, Chi bộ xây dựng kế hoạch, phát động đợt sinh hoạt chính trị trong cán bộ đảng viên, tiến hành kiểm điểm, xếp loại và bầu chọn những đảng viên xuất sắc đưa vào danh sách nhận thẻ đảng gửi lên cấp trên. Năm 1980, Chi bộ xã An Quang tổ chức phát thẻ đảng cho những đảng viên được nhận đợt đầu tiên.
Công tác kiểm tra đảng được tăng cường. Cán bộ, đảng viên được tham gia học tập nội dung, nhiệm vụ công tác kiểm tra đảng, kỷ luật đảng trong tình hình mới. Qua học tập, chi bộ, Đảng bộ và toàn đảng viên nâng cao nhận thức về công tác kiểm tra, thực hiện đúng Điều lệ Đảng... Thực hiện kế hoạch của Huyện ủy, công tác kiểm tra trong Chi bộ được thực hiện thường niên, một số đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng được xử lý kịp thời, góp phần làm trong sạch nội bộ Đảng, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng, củng cố lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.
Nhờ làm tốt công tác phát triển đảng viên mới, đến năm 1981 số lượng đảng viên của Chi bộ xã An Quang ngày càng tăng lên trên 25 đồng chí. Trong đó, một số đảng viên trẻ vừa được kết nạp có phẩm chất tốt và nhiệt tình cách mạng. Nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới, năm 1981, Ban Thường vụ Huyện ủy ra Quyết định thành lập Đảng bộ xã An Quang và cử ra Ban Chấp hành Đảng bộ lâm thời xã gồm 7 đồng chí, do đồng chí Đinh Văn Thơ (Rĩa) giữ chức Bí thư Đảng ủy lâm thời xã, đồng chí Đinh Xuân Lực (Châu) làm Phó Bí thư trực Đảng ủy lâm thời xã và đồng chí Đinh Văn Tám (Ruông) làm Phó Bí thư Đảng ủy lâm thời xã, phụ trách công tác chính quyền. Sau đó, Đảng bộ xã An Quang xúc tiến thành lập các chi bộ trực thuộc Đảng bộ và các cấp ủy chi bộ.
Cuối năm 1982, Đại hội đại biểu Đảng bộ xã An Quang lần thứ I, nhiệm kỳ 1982 - 1986 diễn ra tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã. Đại hội tiến hành bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ xã An Quang nhiệm kì 1982 - 1986 (khóa I) gồm 7 đồng chí. Đồng chí Đinh Xuân Lực (Châu)[79] được bầu làm Bí thư Đảng ủy xã, đồng chí Đinh Văn Phia (Thật) được bầu làm Phó Bí thư trực Đảng ủy xã và đồng chí Đinh Văn Tám (Ruông) được bầu làm Phó Bí thư Đảng ủy xã phụ trách công tác chính quyền.
Đại hội thông qua Nghị quyết về việc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; thực hiện công tác định canh định cư; xây dựng Đảng bộ vững mạnh về mọi mặt; từng bước cải tiến và tăng cường công tác lãnh đạo của Đảng với chính quyền, mặt trận và đoàn thể. Sự thành công của Đại hội Đảng bộ xã lần thứ nhất, đánh dấu bước phát triển của Đảng bộ xã An Quang, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo địa phương hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục và an ninh - quốc phòng.
Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng bộ xã An Quang luôn quan tâm đến công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Để tạo ra sự chuyển biến mới trong Đảng, trong các cơ quan, đoàn thể quần chúng, Đảng ủy đã tích cực triển khai học tập các nghị quyết, tuyên truyền chủ trưởng, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Qua đó, cán triển khai học tập các nghị quyết, tuyên truyền chủ trương, bộ, đảng viên nhận thức tính chất, mục tiêu lý tưởng, nguyên tắc tổ chức của Đảng; vị trí, vai trò và nhiệm vụ của Chi bộ, các nhiệm vụ của đảng viên; các bước công tác quần chúng; chính sách dân tộc, đạo đức cách mạng của Đảng; công tác quản lý các tổ hợp tác... Những vấn đề lý luận được cán bộ, đảng viên liên hệ và vận dụng thực tế của địa phương, góp phần nâng cao trình độ lãnh đạo, khả năng công tác và quản lý, phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.
Về mặt chính quyền
Cùng với công tác xây dựng Đảng, xã An Quang xác định xây dựng chính quyền là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Trong thời gian đầu, việc xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở xã An Quang dựa trên cơ sở tổ chức Đảng và chính quyền cách mạng các xã An Cư, An Hậu, An Mỹ và An Nghĩa .. Tuy nhiên, do đội ngũ cán bộ, đảng viên còn ít, năng lực quản lý hành chính và trình độ văn hóa hạn chế; do việc nhập xã địa bàn rộng, đi lại khó khăn nên số cán bộ, đảng viên đang công tác ở xã cũ ngại tiếp tục tham gia nhận nhiệm vụ ở xã An Quang mới;... Trước tình hình đó, Chi ủy tiến hành vận động, kêu gọi, giao nhiệm vụ cho cán bộ, đảng viên tiếp tục tham gia vào bộ máy chính quyền cách mạng xã An Quang. Chi bộ trực tiếp chỉ đạo, tổ chức cho cử tri học tập chuẩn bị bầu cử Hội đồng nhân dân xã theo đúng quy định, qua đó giúp cử tri nắm vững nguyên tắc, thể lệ bầu cử, phát huy quyền lợi, trách nhiệm trong bầu cử, sáng suốt lựa chọn những đại biểu đủ đức, đủ tài bầu vào Hội đồng nhân dân cấp xã. Tháng 2/1976, cuộc Bầu cử Hội đồng nhân dân xã khóa I (1976 - 1978) diễn r thành công, với 98,3% cử tri tham gia bầu cử. Hội đồng nhân dân tổ chức kỳ họp đầu tiên, bầu các thành viên của Ủy ban nhân dân cách mạng xã; đồng chí Đinh Văn Thơ (Rĩa) được bầu làm Chủ tịch, đồng chí Đinh Văn Chi (Biên)[80] làm Phó Chủ tịch. Các bộ phận văn phòng, ban ngành chuyên môn của Ủy ban nhân dân xã cũng được tổ chức lại.
Nhằm tạo điều kiện giúp cho địa phương triển khai thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới, Huyện ủy tăng cường một số cán bộ có năng lực và uy tín về xã An Quang công tác. Lề lối làm việc của bộ máy chính quyền từ xã đến các thôn từng bước sửa đổi và đi vào nề nếp. Công tác Đảng và chính quyền xác định theo nguyên tắc Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Bộ máy chính quyền cấp xã, thôn phát huy được vai trò của mình trong tổ chức, lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hóa và quản lý xã hội ở địa phương.
Thực hiện Quyết định số 41/QĐ-HĐBT ngày 24/8/1981 của Hội đồng Bộ trưởng, huyện An Lão được tái lập có diện tích là 684,2 km2, dân số 12.600 người với 7 xã[81]: An Hòa, An Trung, An Hưng, An Dũng, An Vinh, An Quang và An Toàn. Từ đây, xã An Quang trực tiếp thuộc huyện An Lão. Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ rồi Đảng bộ, từ năm 1979 đến 1985, công tác bầu cử Hội đồng nhân dân xã An Quang khóa II (1979 - 1981), khóa III (1981 - 1983) và khóa IV (1983 - 1986) lần lượt diễn ra theo đúng luật định. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã An Quang hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, phát huy quyền dân chủ của nhân dân trong việc xây dựng chính quyền và từng bước giám sát thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc xã An Quang.
Hoạt động của Hội đồng nhân dân từng bước đi vào nề nếp, trình độ tổ chức, quản lý của chính quyền được nâng lên. Bộ máy chính quyền từ xã đến thôn ngày càng phát huy hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội. Thông qua bầu cử, Đảng ủy lãnh đạo quần chúng phát huy quyền làm chủ của mình, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền. Nhờ vậy, hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội của chính quyền ngày càng nâng cao, pháp chế xã hội chủ nghĩa tăng cường, quyền làm chủ tập thể của quần chúng tiếp tục phát huy.
Sau mỗi kỳ bầu cử có kết quả, Hội đồng nhân dân xã họp và bầu ra các chức danh của Uy ban nhân dân xã. Đông chí Đinh Văn Tám (Ruông) được Hội đồng nhân dân xã khóa II, III (1978 - 1983) bầu làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, đồng chí Đinh Văn Chi và đồng chí Đinh Văn Nhân (1981 – được bầu làm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã. Đồng chí Đinh Văn Phia được Hội đồng nhân dân xã khóa IV (1983 - 1986) bầu làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, đồng chí Đinh Văn Chi (Biên) và đồng chí Đinh Văn Nhân tiếp tục được bầu làm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã.
Đảng ủy tập trung lãnh đạo công tác củng cố và xây dựng chính quyền; tăng cường thêm cán bộ có năng lực cho chính quyền, chấn chỉnh lề lối làm việc của Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân; phân định rõ trách nhiệm và phạm vi hoạt động của cấp ủy Đảng, của các tổ chức quần chúng và mối quan hệ giữa các tổ chức Đảng - chính quyền - đoàn thể quần chúng, do vậy đã phát huy hiệu lực quản lý kinh tế, quản lý xã hội của chính quyền. Đảng bộ chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, hàng năm Đảng ủy đều xét chọn một số cán bộ xã, tập đoàn sản xuất đi học về chính trị, văn hóa, chuyên môn ở huyện, tỉnh.
Về Mặt trận và các đoàn thể
Trên cơ sở quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng các cấp, Đảng bộ xã An Quang cũng chú ý đến công tác Mặt trận và các đoàn thể nhằm nâng cao hiệu quả vận động quần chúng.
Mặt trận Tổ quốc giữ vững vai trò trung tâm đoàn kết toàn dân, vận động nhân dân tham gia học tập, quán triệt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, củng cố tổ hòa giải, thực hiện đoàn kết thôn xóm. Các tổ chức đoàn thể như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân,... được thành lập và đi vào hoạt động. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã An Quang do Đinh Văn Rẫy (Rấy) làm Bí thư tổ chức nhiều phong trào cách mạng như phong trào để tập hợp, thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia, cùng giúp nhau làm kinh tế, xây dựng quê hương. Hội Nông dân phát động phong trào xây dựng tập đoàn sản xuất, mua công trái xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mở rộng diện tích khai hoang, vận động hội viên thực hiện tốt công tác định canh định cư. Ban Chấp hành Hội Phụ nữ xã An Quang do Đinh Thị Đói làm Chủ tịch và Đinh Thị Trum làm Phó Chủ tịch tổ chức các phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “Giữ gìn vệ sinh sạch sẽ”, “Kế hoạch hóa gia đình”, đoàn kết tương trợ, giúp nhau làm kinh tế, hỗ trợ hội viên vươn lên trong đời sống và sản xuất. Những hoạt động trên góp phần cùng với Đảng ủy và chính quyền xã trong công tác lãnh đạo, điều hành công việc tại địa phương.
Nhìn chung, các tổ chức đoàn thể quần chúng được kiện toàn và đi vào hoạt động có nề nếp, tiến hành sinh hoạt và thu hút được hội viên, đoàn viên vào tổ chức ngày càng đông hơn. Nhờ vậy, đã tạo ra sự thống nhất ý chí và hành động, tăng cường sự đoàn kết toàn dân, tạo sự gần gũi gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân; thúc đẩy các phong trào của quần chúng, thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; tham gia công tác xây dựng Đảng, chính quyền.
- Tiếp tục khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh (1976 - 1985)
Sau khi hoàn thành sự nghiệp giải phóng quê hương, được thành lập trên cơ sở của 4 xã trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhiệm vụ lớn lao đặt ra cho toàn Đảng, toàn quẩn và toàn dân xã An Quang là khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh. Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng với ý chí tinh thần cách mạng, lòng yêu quê hương đất nước, dưới sự lãnh đạo của Chi bộ rồi Đảng bộ và chính quyền cách mạng, quân dân xã An Quang quyết tâm vượt qua mọi khó khăn để xây dựng lại cuộc sống mới, đưa sự nghiệp cách mạng của xã tiếp tục phát triển.
Về kinh tế
Để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, trong quá trình khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Hoài An lần thứ I đề ra phương hướng tổng quát giai đoạn 1977 - 1978 là: Phát động phong trào cách mạng sôi nổi trong toàn Đảng, toàn quân, toàn huyện nhà; đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu - thủ công nghiệp... từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và cải thiện đời sống nhân dân[82]. Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện, thực hiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân xã An Quang và các thôn đã hướng dẫn nhân dân cải tiến phương pháp canh tác, bước đầu áp dụng kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, mở rộng diện tích trồng lúa nước, trồng mì, thơm, đu đủ.... Do điều kiện đất đai và khí hậu ở thuận lợi, cây mì được đưa vào trồng trên địa bàn xã với diện tích lớn, theo tinh thần khẩu hiệu của nhân dân địa phương là: “mì chủ lực, bắp bồi dưỡng, gạo liên hoan”. Trong giai đoạn này, chăn nuôi chưa có sự phát triển, quy mô còn nhỏ lẻ, số lượng vật nuôi không nhiều chủ yếu là nuôi trâu để lấy sức kéo và nuôi lợn làm thực phẩm hằng ngày.
Thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 15/11/1977 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác dân tộc ít người ở các tỉnh miền Nam, dưới sự chỉ đạo và hỗ trợ của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, xã An Quang thực hiện chăm lo ổn định đời sống cho đồng bào dân tộc; tiếp tục vận động đồng bào tích cực tham gia công cuộc cải tạo quan hệ sản xuất, khôi phục và phát triển kinh tế; xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình thủy lợi, giao thông, trạm y tế, trường học; xây dựng các khu định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số, hỗ trợ kinh phí, giống cây trồng, vật tư, trâu bò... giúp đồng bào định cư, ổn định sản xuất. Khắc phục những khó khăn về kết cấu hạ tầng giao thông, đáp ứng nhu cầu đi lại và phục vụ cho công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, nhân dân xã An Quang tích cực tham gia sửa chữa các tuyến đường liên thôn, liên xã ..
Đảng ủy xã An Quang chỉ đạo chính quyền nhanh chóng sắp xếp, phân công lao động, tiến hành duy trì và mở rộng mô hình tổ “vần công, đổi công” giúp nhau trong lao động sản xuất được xây dựng trong những năm 1972 - 1976 ở các xã nhỏ trước đây thành các tổ sản xuất theo đơn vị thôn mới, nhằm giúp nông dân từng bước làm quen với mô hình làm ăn tập thể, chuẩn bị cho công tác cải tạo quan hệ sản xuất trong nông nghiệp. Với sự hoạt động tương đối có hiệu quả của tổ sản xuất cộng với sự giúp đỡ của các đoàn thể, sản xuất nông nghiệp có bước cải thiện, diện tích đất hoang hóa giảm xuống, vấn đề nhà ở cho nhân dân trong xã cơ bản được giải quyết
Đảng ủy và chính quyền xã chủ trương lựa chọn một số đồng chí có trình độ văn hóa đi học các lớp về nghiệp vụ liên quan đến cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới, từng bước đưa nông dân, đồng bào vào con đường làm ăn tập thể. Năm 1979, trên cơ sở các tổ sản xuất chính quyền xã An Quang thành lập 9 tập đoàn sản xuất theo địa bàn từng thôn. Mỗi tập đoàn sản xuất có tập đoàn trưởng, tập đoàn phó và thư ký tập đoàn, hầu hết các thôn trưởng của xã An Quang lúc bấy giờ được chuyển sang làm nhiệm vụ tập đoàn trường. Mọi hoạt động từ kinh tế đến xã hội, văn hóa, giáo dục,... của địa phương giữa Đảng ủy, chính quyền xã với các thôn chủ yếu thông qua tập đoàn sản xuất mà người đứng đầu là tập đoàn trưởng.
Các thành viên trong độ tuổi lao động trong tập đoàn gọi là tập đoàn viên. Tất cả ruộng đất trong tập đoàn đều là của tập thể; mọi hoạt động sản xuất, chăn nuôi trong tập đoàn đều làm tập thể, theo sự phân công của tập đoàn và tính theo giá trị công điểm. Đây là mô hình tổ chức sản xuất tập thể ở địa bàn các xã miền núi nước ta. Sau khi thành lập, các tập đoàn sản xuất xây dựng kế hoạch sản xuất, xác định giống cây trồng cho phù hợp với từng diện tích đất, ứng dụng khoa học kỹ thuật (giống, phân đạm, thuốc trừ sâu... ), xây dựng công trình thủy nông vừa và nhỏ để phục vụ tưới tiêu.
Quán triệt Chỉ thị số 100-CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp[83], Huyện ủy chỉ đạo từng bước thực hiện công tác khoán sản phẩm ở các hợp tác xã, xây dựng định mức và khoán việc ở các tập đoàn sản xuất, góp phần đưa đến những chuyển biến mới trong sản xuất nông nghiệp. Ở xã An Quang, các tập đoàn sản xuất tích cực đẩy mạnh khai hoang, mở rộng diện tích canh tác, từng bước áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, tạo nên phong trào thi đua sản xuất sôi nổi trong toàn xã. Trong năm 1982, xã An Quang tiếp tục khai hoang được 5 ha đất và kiến thiết đồng ruộng khoảng 5 ha đất canh tác lúa nước. Đồng thời hoàn thành công trình thủy lợi gần khu đất Nước Rung, Nước Côn thuộc Thôn[84].
Triển khai chính sách định canh, định cư của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định, dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, đồng bào dân tộc xã An Quang không chỉ đoàn kết, hăng say lao động sản xuất, ổn định đời sống mà còn làm tốt công tác định canh, định cư. Ban định canh định cư tỉnh đã phê duyệt dự án đầu tư kinh phí cho huyện An Lão trồng thí nghiệm 1 ha tiêu giống mới tại khu vực Nước Phéc thuộc Thôn 2. Việc đưa cây tiêu vào trồng thử nghiệm trên địa bàn xã được xem là bước tiến lớn trong ngành nông nghiệp của địa phương, góp phần mang lại giá trị kinh tế cho người dân.
Ngày 29/10/1982, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện An Lão lần thứ X (vòng 2) khai mạc. Đại hội xác định phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1982 – 1985 là tập trung sức phát triển nông nghiệp, đưa nông nghiệp lên một bước sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tập trung sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất nguyên liệu hàng tiêu dùng và xuất khẩu... Tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa, củng cố hợp tác xã và tập đoàn sản xuất, áp dụng rộng rãi khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm khai thác khoáng sản phẩm trong nông nghiệp. Phát triển và nâng cao các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế và từng bước cải thiện đời sống nhân dân. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đề cao cảnh giác cách mạng, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tiếp tục nâng cao sức lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ[85].
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện An Lão lần thứ X, cán bộ đảng viên và nhân dân xã An Quang nỗ lực vượt qua khó khăn, phát huy thế mạnh về lâm nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế vườn rừng, tập trung công tác quy hoạch, chăm sóc, quản lý, khai thác và kinh doanh, thực hiện bước đầu mô hình kinh tế nông - lâm kết hợp. Nền kinh tế nông nghiệp xã An Quang bắt đầu được khôi phục, đời sống nhân dân cơ bản đã ổn định. Ngoài trồng trọt, đồng bào các dân tộc xã An Quang còn chú trọng phát triển chăn nuôi trâu, heo, bò, gia súc, gia cầm. Chăn nuôi không còn đơn thuần là để lấy thịt và cung cấp sức kéo mà còn là hoạt động kinh doanh hàng hóa có giá trị kinh tế cao, góp phần thúc đẩy kinh tế hộ gia đình phát triển.
Nhằm phát huy những lợi thế về nguồn tài nguyên rừng, dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, xã An Quang phối hợp với các ngành khai thác lâm thổ sản; đẩy mạnh trồng rừng, bảo vệ rừng, phát động “Tết trồng cây mừng đất nước thống nhất”, phong trào “Trồng cây nhớ ơn Bác Hồ”; tích cực phối hợp với lực lượng kiểm lâm đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục, vận động quần chúng nhân dân, đồng bào dân tộc chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong việc bảo vệ rừng, giúp người dân nhận thấy ý nghĩa của bảo vệ rừng, hạn chế chặt phá, khai thác rừng trái phép.
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp từng bước được khôi phục, trong đó, nghề rèn được chú trọng. Lò rèn được lập ở các tập đoàn sản xuất, đã làm ra nhiều loại hình nông cụ, như rựa, liềm, cuốc, rìu... đáp ứng yêu cầu sản xuất của đồng bào. Nhằm cung cấp hàng hóa cho nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện An Lão tập trung chỉ đạo củng cố, hỗ trợ thành lập 10 điểm mua bán ở các địa bàn vùng sâu vùng xa, trong đó có xã An Quang góp phần đảm bảo các mặt hàng tiêu dùng và vật tư nông nghiệp phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất cho nhân dân; đồng thời thu mua hàng hóa nông sản, đảm bảo giá cả, hạn chế nạn tư thương đầu cơ tích trữ, ép giá, nâng giá mua bán, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân các thôn xã được giao lưu trao đổi mua bán.
Kinh tế phát triển không chỉ đảm bảo cuộc sống cho nhân dân mà địa phương còn có tích lũy. Trong mười năm (1976 - 1986), xã An Quang còn dành kinh phí để góp vào xây dựng hệ thống cơ sở vật chất cho các tập đoàn sản xuất, cơ quan làm việc, thủy lợi, giao thông, trường học...
Về văn hóa, giáo dục, y tế
Từ 1976 đến 1986 nền kinh tế xã An Quang có sự chuyển biến, góp phần ổn định cuộc sống của nhân dân. Bên cạnh đó lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế cũng được các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể của xã quan tâm đúng mức. Thực hiện sự chỉ đạo của Huyện ủy, Đảng ủy xã và sự hướng dẫn, giúp đỡ về chuyên môn của Phòng Văn hóa - Thông tin huyện, các hoạt động văn hóa, văn nghệ ở xã An Quang được đẩy mạnh với nhiều hình thức phong phú. Hoạt động thông tin được mở rộng, gắn với nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn, qua đó phổ biến sâu rộng đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm rõ tính ưu việt của chế độ mới, nền văn hóa mới và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; các chỉ thị, nghị quyết, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa... của địa phương, nhất là công cuộc cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất, an ninh, quốc phòng...
Đẩy mạnh xây dựng nền văn hóa mới, khuyến khích đồng bào dân tộc thiểu số loại bỏ những tập tục lạc hậu, duy trì và phát huy các giá trị, đặc trưng văn hóa truyền thống tốt đẹp, thực hiện ăn ở đảm bảo vệ sinh, từng bước đẩy lùi các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan; đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân được nâng cao, tinh thần đoàn kết cộng đồng được phát huy, làm cho nhân dân các dân tộc ít người tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng và lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đội văn nghệ của xã và các đội văn nghệ ở từng làng, từng tập đoàn sản xuất được duy trì sinh hoạt, tập luyện và biểu diễn nhân các ngày lễ, tết. Đặc biệt, Ban Văn hóa, văn nghệ xã đã sưu tầm các loại nhạc cụ truyền thống của đồng bào, sáng tác được bài hát, điệu múa để biểu diễn phục vụ nhân dân.
Thực hiện Chỉ thị số 221-CT/TW ngày 17/6/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác giáo dục ở miền Nam sau ngày hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ và chính quyền xã tiếp tục phát động phong trào “Bình dân học vụ” nhằm góp phần xóa nạn mù chữ và nâng cao dân trí cho nhân dân. Về giáo dục phổ thông, trên địa bàn xã An Quang từ năm 1976 đến năm 1984 đã tổ chức dạy học từ lớp 1 đến lớp 5, tuy nhiên lúc này chưa có trường lớp tập trung, mỗi thôn có một lớp học, dạy cho tất cả các trình độ khác nhau. Nhiều nơi chưa có phòng học riêng, nên phải tổ chức dạy học nhờ tại nhà riêng của đồng bào. Giáo viên thì thiếu, họ phải kiêm nhiệm dạy nhiều lớp ở những địa bàn khác nhau.
Đến năm 1985, sự nghiệp giáo dục ở An Quang có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Từ nguồn vốn của Nhà nước và sự hỗ trợ của huyện An Lão, trên địa bàn xã An Quang đã xây dựng được một trường tiểu học cấp 4 kiên cố với 7 phòng học, đảm bảo điều kiện dạy học tập trung cho con em đồng bào.
An Quang là xã miền núi cách xa khu trung tâm huyện An Lão, địa hình đồi núi giao thông đi lại khó khăn, cho nên công tác y tế chăm sóc sức khỏe cho người dân gặp nhiều trở ngại. Khi mới thành lập năm 1976, trên địa bàn xã chưa có cơ sở y tế, đa số người dân có bệnh thì chạy chữa bằng thuốc nam là chủ yếu; có nơi đồng bào còn tổ chức cúng bái để chữa mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, công tác y tế cơ Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác y tế trong tình hình bệnh. Thực hiện Chỉ thị số 226-CT/TW ngày 17/11/1977 của chữa bệnh cho nhân dân được quan tâm. Năm 1983, được sự sở ở các xã được tăng cường; việc chăm sóc sức khỏe, khám hỗ trợ từ nguồn ngân sách Nhà nước, Trạm Y tế xã An Quang được xây dựng bằng tường xây mái ngói với khoảng 10 giường bệnh. Đội ngũ cán bộ y tế của Trạm chủ yếu là con em địa phương được tuyển chọn cho đi đào tạo, bồi dưỡng ở Trung tâm y tế huyện.
Công tác vệ sinh, phòng dịch, phòng bệnh được quan tâm. Đảng ủy và chính quyền xã An Quang chỉ đạo các thôn, làng, gia đình phấn đấu hoàn thành việc xây dựng 3 công trình vệ sinh, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, có vườn trồng cây thuốc Nam. Đội công tác vệ sinh phòng dịch từ xã đến thôn, làng được củng cố; hàng năm đều tiến hành tiêm chủng định kỳ, phun thuốc DDT diệt muỗi, chú trọng trồng và sử dụng cây thuốc Nam, bài trừ các hủ tục như: bói toán, mê tín, dị đoan; vận động đồng bào đặt vòng tránh thai. Nhờ vậy, nhiều dịch bệnh như sốt rét, dịch tả, lao được ngăn chặn, đẩy lùi; hoàn thành chỉ tiêu thực hiện công tác sinh đẻ có kế hoạch, giảm tỉ lệ tăng dân số xuống còn 3% năm 1985.
Thực hiện Chỉ thị số 223-CT/TW ngày 9/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác thương binh và xã hội sau chiến tranh, Huyện ủy An Lão chỉ đạo chính quyền tổ chức Hội nghị triển khai công tác thương binh và xã hội, đồng thời xây dựng kế hoạch thực hiện chế độ chính sách đối với các gia đình thương binh, liệt sĩ và gia đình có công cách mạng. Theo tinh thần trên, Đảng ủy và chính quyền xã An Quang tiến hành làm thủ tục công nhận, cấp sổ và bằng Tổ quốc ghi công cho các gia đình liệt sĩ; lập sổ bộ cấp phát chế độ tiền lương cho các đối thượng chính sách, như thương binh, thân nhân liệt sĩ, gia đình có công cách mạng; kịp thời hỗ trợ gạo, muối và tiền mặt cho các hộ gia đình gặp nhiều khó khăn, gia đình chính sách.
Đặc biệt, Chi ủy và chính quyền đã phối hợp với cấp trên để hoàn thành hồ sơ xét tặng danh hiệu Anh hùng cho cá nhân và tập thể. Kết quả là năm 1976, liệt sĩ Đinh Ruối, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và năm 1979, nhân dân và lực lượng vũ trang xã An Quang được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đây là sự ghi nhận và động viên kịp thời đối với sự đóng góp và hy sinh của nhân dân các dân tộc xã An Quang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Hằng năm, chính quyền từ xã đến thôn đều tổ chức các hoạt động thăm hỏi, động viên, tặng quà nhân kỉ niệm Ngày thương binh liệt sĩ 27/7...
Trong những năm 1976 - 1986, lợi dụng những khó khăn của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội các thế lực thù địch, tổ chức phản động tiếp tục nhen nhóm, chống phá phong trào cách mạng địa phương bằng nhiều thủ đoạn, nhất là kích động tiêu cực, gieo rắc hoài nghi về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gây mất đoàn kết nội bộ trong nhân dân bằng nhiều hình thức và hoạt động. Trước tình hình đó, Đảng ủy thường xuyên quán triệt và triển khai thực hiện các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Tỉnh ủy và Huyện ủy về quốc phòng - an ninh; tập trung chỉ đạo xây dựng phương án phòng thủ và sẵn sàng chiến đấu; chú trọng phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, giáo dục và nâng cao nhận thức về tình hình nhiệm vụ mới; tăng cường cảnh giác, làm rõ những âm mưu, thủ đoạn của địch; nâng cao ý thức làm chủ tập thể, ý thức bảo vệ Tổ quốc và tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ và nhân dân.
Nhờ làm tốt công tác phối hợp giữa quân đội, công an với phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, trong những năm 1976 - 1986, tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn về cơ bản được giữ vững. Kịp thời điều tra, xử lý các vụ xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, kinh doanh trái phép, trộm cắp, lừa đảo,... các tệ nạn xã hội có chiều hướng giảm. Mặt khác, Đảng ủy và chính quyền địa phương tăng cường xây dựng lực lượng dân quân du kích và lực lượng công an nhân dân cơ sở. Công tác quản lý hộ tịch hộ khẩu được triển khai và thực hiện có kết quả. Chỉ đạo chặt chẽ công tác tuyển quân, từng bước đi vào nề nếp, hàng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu giao quân.
Nhìn chung, trong hơn 10 năm đầu từ khi thành lập xã An Quang (1976 - 1986), đứng trước nhiều khó khăn, thử thách, thiếu thốn, nhưng nhờ sự quan tâm chỉ đạo của Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện An Lão, các chính sách hỗ trợ kịp thời của Nhà nước, tỉnh, huyện; sự cố gắng của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của đồng bào xã An Quang làm cho tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh từng bước được khôi phục, phát triển; đời sống của nhân dân được cải thiện và dần đi vào ổn định. Với những thành tựu đạt được này, góp phần tăng cường sự đoàn kết xã hội, củng cố và nâng cao tình cảm, niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Bên cạnh thành tựu đạt được, tình hình kinh tế - xã hội của xã An Quang vẫn còn nhiều hạn chế. Trong sản xuất nông nghiệp, công tác thủy lợi chưa đảm bảo cho việc chủ động tưới tiêu, thời tiết diễn biến khắc nghiệt, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp còn thiếu. Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhất là chăn nuôi còn hạn chế, nên hiệu quả chưa cao, công tác phòng trừ dịch bệnh chưa tốt, tập quán chăn nuôi còn lạc hậu. Cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện nhưng chưa vững chắc.
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân chưa đảm bảo; nhiều hủ tục lạc hậu vẫn còn phổ biến trong đời sống nhân dân. Đảng bộ chưa quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng nên trong quá trình vận dụng còn lúng túng, bị động; trong nhận thức, đánh giá tình hình chưa lường hết những khó khăn, phức tạp, tổ chức thực hiện chưa đồng bộ; năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở chưa theo kịp yêu cầu; đội ngũ cán bộ còn thiếu, năng lực quản lý của một bộ phận đảng viên còn thấp, một số đảng viên thoái hóa, biến chất.
II. BƯỚC ĐẦU THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TRÊN ĐỊA BÀN XÃ AN QUANG (1986 - 1995)
1. Tình hình và chủ trương đổi mới của Đảng các cấp
Trải qua 10 năm cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, đất nước đạt được những thành tựu nhiều mặt, góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục sản xuất, bước đầu phát triển kinh tế - xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, từ những năm 80 của thế kỷ XX, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng và đến cuối năm 1985 đầu năm 1986 thì tình hình kinh tế - xã hội ngày càng khủng hoảng trầm trọng, nền kinh tế mất cân đối, sản xuất trì trệ, lạm phát kéo dài, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Từ đó, vấn đề đổi mới toàn diện đất nước đặt ra một cách bức thiết.
Từ ngày 15 đến ngày 18/12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam được tiến hành tại Hà Nội, chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Đại hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, quyết tâm: Tiếp tục thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa[86]... Đại hội điều chỉnh cơ cấu kinh tế; tập trung thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa; thực hiện chính sách kinh tế mở, đa dạng hóa thị trường.
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, ngày 8/01/1987, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình lần thứ IV (vòng 2) được triệu tập tại thành phố Quy Nhơn. Đại hội quán triệt đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam với hai nhiệm vụ chiến lược mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã khẳng định; xác định nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh là tập trung thực hiện ba chương trình kinh tế: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu[87].
Thực hiện chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Nghĩa Bình, trong 2 ngày 10 và 11/9/1986, Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện An Lão lần thứ XI, nhiệm kỳ 1986 - 1988 đã được khai mạc. Trên cơ sở đánh giá tổng kết tình hình, Đại hội thảo luận và thông qua phương hướng, nhiệm vụ chung của Đảng bộ là: Tập trung sức sản xuất một cách toàn diện nhất là nông nghiệp, nhằm giải quyết cơ bản vấn đề lương thực và thực phẩm. Phát triển cây công nghiệp ngắn, dài ngày. Tăng nhanh hàng xuất khẩu, phấn đấu giữ vững thị trường, giá cả, từng bước ổn định và cải thiện đời sống vật chất cho cán bộ và nhân dân. Nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa - xã hội, từng bước xây dựng nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Phấn đấu xây dựng Đảng bộ huyện trong sạch vững mạnh đủ năng lực lãnh đạo và hoàn thành suất sắc nhiệm vụ chính trị trong những năm tiếp theo[88].
Cuối năm 1986, tình hình xã An Quang có sự thay đổi về địa bàn hành chính và dân cư. Theo Quyết định 15/QĐ-HĐBT ngày 19/12/1986 của Hội đồng Bộ trưởng về việc điều chỉnh địa giới hành chính của một số xã, huyện và thị xã trong tỉnh Nghĩa Bình và thị xã An Quang được chia ra làm 2 xã: An Quang và An Nghĩa. Như vậy, địa bàn còn lại của xã An Quang là 5 Nghĩa Bình thì xã An Quang được chia ra làm 2 xã: An Quang thôn, có nhiều điều kiện thuận lợi hơn so với trước đây.
Tỉnh ủy Nghĩa Bình và Huyện ủy An Lão, để kiện toàn sự lãnh Thực hiện kế hoạch Đại hội Đảng các cấp của Trung ương, đạo của Đảng đối với địa phương, tháng 6 năm 1986 Đại hội Đảng bộ xã An Quang lần thứ II, nhiệm kỳ 1986 - 1988 được tiến hành tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã, với sự tham dự của khoảng 40 đảng viên. Đại hội thảo luận, đánh giá tổng kết những thành tựu đạt được của địa phương hơn 10 năm (1975 1986) là tiến hành khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh có sự chuyển biến tích cực; kết cấu hạ tầng (giao thông, thủy lợi...) có sự thay đổi đáng kể, phục vụ đắc lực cho hoạt động sản xuất của nhân dân; các tập đoàn sản xuất và hợp tác xã được củng cố và xây dựng mọi mặt; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện. Song vẫn còn những hạn chế cần khắc phục, như: Sản xuất còn phụ thuộc vào tự nhiên; công tác định canh, định cư thực hiện chưa hiệu quả; đời sống của nhân dân thường xuyên phải nhận sự trợ cấp của Nhà nước; hàng hóa khan hiếm; trình độ của nhân dân còn thấp, tập tục mê tín dị đoan còn phổ biến; tình trạng phá rừng còn diễn ra phức tạp và chưa có biện pháp giải quyết căn cơ.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của nó, Đại hội đề ra chủ trương: Tập trung mọi nguồn lực đẩy mạnh sản xuất nông - lâm nghiệp; coi trọng sản xuất lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế - xã hội; từng bước ổn định và cải thiện đời sống vật chất cho nhân dân và hoàn thành nghĩa vụ cho Nhà nước; từng bước xây dựng nền văn hóa mới; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tiếp tục làm tốt công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể trong sạch vững mạnh. Trên tinh thần dân chủ, đổi mới, Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ xã nhiệm kỳ 1986 - 1988 (khóa II) gồm 9 đồng chí. Đồng chí Đinh Văn Ruộng (Tám) được bầu làm Bí thư Đảng ủy xã; đồng chí Đinh Văn Nhua (Quý) được bầu làm Phó Bí thư trực Đảng ủy xã; đồng chí Đinh Văn Phía tiếp tục được bầu làm Phó Bí thư Đảng ủy xã, phụ trách công tác chính quyền.
Sau Đại hội Đảng bộ xã An Quang khóa II, đón nhận tinh thần đổi mới từ Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình lần thứ IV và Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện An Lão lần thứ XI, Đảng ủy đã vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới và những quyết sách lớn của Đảng vào hoàn cảnh thực tế địa phương, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong các năm 1986 - 1988, trọng tâm là thực hiện 3 chương trình kinh tế: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Đại hội Đảng bộ các cấp cũng như Đại hội Đảng bộ xã An Quang nhiệm kỳ 1986 - 1988 đánh dấu bước mở đầu cho sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung, địa phương nói riêng. Những chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng, chính sách của bo sung, hoàn Nhà nước được Đảng bộ xã An Quang tiếp tục thiện, cụ thể hóa phù hợp với tình hình thực tế của địa phương tại các kỳ Đại hội Đảng bộ xã tiếp theo. Đó là Đại hội Đảng bộ xã An Quang lần thứ III, nhiệm kỳ 1988 - 1991, được tổ chức vào ngày 22 tháng 11 năm 1988, với sự tham dự của 35 đảng viên. Đại hội đánh giá tổng kết nhiệm kỳ 1986 - 1988; thảo luận và thông qua phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1988 - 1991. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ xã nhiệm kỳ 1988 - 1991 (khóa III) gồm 7 đồng chí. Đồng chí Đinh Văn Ruông (Tám) tiếp tục được bầu làm Bí thư Đảng ủy xã; đồng chí Đinh Văn Nhua (Quý) tiếp tục được bầu làm Phó Bí thư thường trực Đảng ủy xã; đồng chí Đinh Văn Rỗi được bầu làm Phó Bí thư Đảng ủy xã, phụ trách công tác chính quyền.
Ngày 6 tháng 10 năm 1991, Đại hội Đảng bộ xã An Quang lần thứ IV, nhiệm kỳ 1991 - 1994 diễn ra tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã, với sự tham dự của 37 đảng viên. Đại hội đánh giá tổng kết nhiệm kỳ 1988 - 1991; thảo luận và thông qua phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1991 - 1994. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ xã nhiệm kỳ 1991 - 1994 (khóa IV) gồm 7 đồng chí. Đồng chí Đinh Văn Ruông (Tám) tiếp tục được bầu làm Bí thư Đảng ủy xã; đồng chí Đinh Văn Nhua (Quý) tiếp tục được bầu làm Phó Bí thư thường trực Đảng ủy xã; đồng chí Đinh Văn Rỗi tiếp tục được bầu làm Phó Bí thư Đảng ủy xã, phụ trách công tác chính quyền.
Ngày 17 tháng 4 năm 1994, Đại hội Đảng bộ xã An Quang lần thứ V, nhiệm kỳ 1994 - 1996 diễn ra tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã, với sự tham dự của 40 đảng viên. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ xã nhiệm kỳ 1994 - 1996 (khóa V) gồm 7 đồng chí. Đồng chí Đinh Văn Ruông (Tám) tiếp tục được bầu làm Bí thư Đảng ủy xã; đồng chí Đinh Văn Nhua (Quý) tiếp tục được bầu làm Phó Bí thư thường trực Đảng ủy xã; đồng chí Đinh Văn Rỗi tiếp tục được bầu làm Phó Bí thư Đảng ủy xã, phụ trách công tác chính quyền.
Quá trình triển khai các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tuy gặp nhiều khó khăn, song Đảng bộ và nhân dân xã An Quang đã đoàn kết, phát huy mọi nguồn lực để thực hiện phương hướng, nhiệm vụ đề ra. Theo đó, Đảng bộ xã An Quang không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lí và điều hành của chính quyền, sự phối hợp tham gia của các đoàn thể, từng bước xóa bỏ cơ chế quản lí tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế hàng hóa, phát triển kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho nhân dân, thực hiện các chính sách xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng, trên cơ sở đó góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng nước nhà.
2. Phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện định canh, định cư và xây dựng kết cấu hạ tầng
Từ 1986 đến 1995 là chặng đường mà Đảng bộ và nhân dân xã An Quang thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo đường lối đổi mới của Đảng, trên cơ sở cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ của 4 nhiệm kỳ Đại hội. Trong giai đoạn này, Đảng bộ chú trọng chỉ đạo phát triển sản xuất, trước hết là sản xuất nông nghiệp, giải quyết tốt nhu cầu lương thực, thực phẩm tại chỗ, làm tiền đề phát triển lâm nghiệp, thủ công nghiệp, tăng thêm nguồn hàng.
Được sự hỗ trợ của huyện và tỉnh, xã An Quang tập trung mọi nguồn lực để phát triển kinh tế toàn diện, nhất là về nông nghiệp, nhằm giải quyết lương thực, thực phẩm, từng bước cải thiện dời sống của nhân dân. Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã cùng với các đoàn thể quần chúng chỉ đạo, hướng dẫn các tập thiện đời sống của nhân dân. Đảng ủy và Ủy ban nhân dân xã giống cây trồng phù hợp với mùa vụ. Công tác thủy lợi tiếp đoàn sản xuất đẩy mạnh sản xuất nông - lâm nghiệp, thay đổi tục được chú trọng, đồng bào tìm cách đắp đập, chặn dòng để tìm cách dẫn nước vào đồng ruộng. Đến năm 1990, toàn xã An Quang nạo vét và làm mới 16 mương nước và đập thủy lợi đáp ứng tưới tiêu cho 23,9 ha diện tích gieo trồng.
Thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, Đảng ủy và chính quyền xã An Quang chỉ đạo củng cố và mở rộng quan hệ sản xuất kinh doanh của các tập đoàn sản xuất. Chẩn chỉnh tổ chức, đổi mới quản lý sản xuất nông nghiệp theo cơ chế Khoán 10 trên quy mô toàn xã, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, các hộ nông dân phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tích cực đẩy mạnh sản xuất, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển.
Xã An Quang tiến hành phân chia mỗi lao động được nhận từ 1 đến 1,5 sào ruộng nước để sản xuất. Đảng bộ xã và các chi bộ định hướng cho người dân kết hợp trồng trọt và chăn nuôi, đào ao nuôi cá; trồng các cây hoa màu ngắn ngày và dài ngày, có hiệu quả cao, tăng thu nhập, cải thiện đời sống. Nhờ thực hiện cơ chế quản lý mới, cho nên trong sản xuất nông nghiệp khắc phục được những khó khăn của giai đoạn trước và tiếp tục có bước phát triển. Nông dân mạnh dạn đưa giống mới, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng và mùa vụ, đầu tư thâm canh tăng vụ, phòng trừ sâu bệnh, sử dụng phân bón hiệu quả, áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất. Nhiều năm thời tiết không thuận lợi, thiên tai, dịch bệnh nhưng diện tích, năng suất, sản lượng đều tăng. Sản lượng màu qui thóc (chủ yếu là sắn) hằng năm chiếm hơn 50% sản lượng lương thực.
Năm 1993, toàn xã An Quang có 56,5 ha trồng lúa, sản lượng thu được là 106,3 tấn; diện tích trồng các loại cây hoa màu là 80 ha; tổng sản lượng lương thực quy thóc là 226,3 tấn, bình quân lương thực là 271 kg/1người[89]. Đến năm 1995, công cuộc việc xóa đói giảm nghèo ở xã An Quang có sự chuyển biến rõ rệt, đời sống của cán bộ, nhân dân được ổn định, gia đình đủ ăn, đủ mặc chiếm 70%.
Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất còn nhiều hạn chế, do tưới tiêu chưa chủ động nên năng suất lúa còn bấp bênh, bình quân 1,9 tấn/ha/vụ. Ở các làng Nước Côn, Đá Mòn, Ruối, Ông Tám, An Hậu 1, An Hậu 2 có tổng cộng là 33 ha, trong đó có 7 ha canh tác lúa nước nhưng chỉ có 22,8 ha sản xuất 2 còn lại chỉ sản xuất vụ Đông Xuân. Bình quân lương thực đầu người là 127 kg thóc/năm. Lương thực thiếu hụt, người dân lại đi phát rừng làm nương rẫy gây kiệt quệ rừng và đất đại. Sản xuất kinh tế vườn và cây công nghiệp trên địa bàn xã chưa có định hướng rõ nét. Mỗi hộ có khoảng 0,5 ha rẫy để trồng màu, 0,1 - 0,2 ha vườn nhưng chưa có mô hình sản xuất hợp lý. Trong số các loại cây có giá trị kinh tế cao thì cây tiêu đáp ứng được, song diện tích trồng không đáng kể.
Tình hình chăn nuôi có sự phát triển, mặc dù vốn đầu tư còn hạn chế nhưng trên địa bàn xã có tổng số 270 con trâu, bò, trong đó trâu bò cày kéo chiếm trên 60% tổng đàn, bình quân có 1,5 con/hộ. Tuy nhiên, công tác chuồng trại, thức ăn và phòng chống dịch bệnh chưa được chú ý[90].
Trong sản xuất lâm nghiệp thực hiện Đề án Bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh năm 1992, huyện An Lão chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng cho hộ nông dân bảo vệ và thực hiện chủ trương phủ xanh đất trống, đổi núi trọc thông qua Chương trình 327, Chương trình 120 của Chính phủ. Đảng ủy và chính quyền xã phát động phong trào trồng cây gây rừng được hộ gia đình hưởng ứng mạnh mẽ, việc quản lý và phát triển kinh tế vườn - rừng ở địa phương có sự chuyển biến tích cực.
Sau khi lập Dự án định canh, định cư trên địa bàn xã An Quang, năm 1995, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định phê duyệt Dự án với tổng mức đầu tư là 8 tỷ 124 triệu đồng, trong đó có 1 tỷ 718 triệu đồng là vốn tự huy động. Mục đích chính của dự án là bảo vệ 1.107 ha rừng hiện có, trồng mới 1.400 ha, trồng 98 ha cây công nghiệp và cây ăn quả, phát triển chăn nuôi 1.200 con trâu, bò, 400 con heo. Từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng có trọng điểm phục vụ sản xuất, đồng bào vùng dự án[91]. Trên tinh thần đó, xã An Quang triển khai thực hiện định canh, định cư gắn liền với giao đất, giao rừng cho các đơn vị tập thể và cá nhân sử dụng lâu dài; phát động nhân dân sản xuất nông - lâm kết hợp, lấy ngắn nuôi dài, gắn chặt giữa khai thác và trồng mới, đặc biệt là trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây làm nguyên liệu có giá trị về kinh tế.
Được sự tăng cường hỗ trợ về mọi mặt qua Dự án, tình trạng du canh, du cư trong đồng bào giảm dần. Công tác quản lý và bảo vệ rừng được thực hiện thường xuyên; đồng bào sử dụng một phần đất lâm nghiệp trồng các lại cây công nghiệp và phát triển chăn nuôi. Nhờ vậy, trên lĩnh vực nông - lâm nghiệp có bước chuyển biến rõ rệt. Kinh tế vườn, kinh tế hộ gia đình từng bước hình thành và phát triển, nhiều hộ gia đình làm ăn khá giỏi. Thu nhập từ kinh tế vườn của một số hộ đồng bào dân tộc chiếm gần 50% tổng thu nhập hàng năm. Đời sống của nhân dân xã An Quang có sự thay đổi đáng kể về mọi mặt. Tuy nhiên, việc chặt phá rừng vẫn còn xảy ra, việc trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc thực hiện chưa đúng kế hoạch.
Bên cạnh sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp, hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp được chú trọng. Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã An Quang vận dụng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, khuyến khích nhân dân đầu tư vốn phát triển sản xuất, kinh doanh, buôn bán. Do các tuyến đường liên thôn và liên xã được khai thông nên đã góp phần thúc đẩy hoạt động thương nghiệp phát triển. Nhân dân địa phương có điều kiện giao lưu mua bán, trao đổi các nhu yếu phẩm với các địa phương khác.
Công tác xóa đói giảm nghèo triển khai tích cực, kết quả trên địa bàn xã từ năm 1986 đến năm 1995 đã xây dựng khoảng 50 dự án với tổng số vốn vay khoảng 200 triệu đồng, giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động. Đời sống nhân dân trong xã ngày càng khả quan hơn, toàn xã An Quang đến cuối năm 1995 còn khoảng 30 hộ đói nghèo chiếm tỉ lệ khoảng 15%,
Về kết cấu hạ tầng, mặc dù kinh phí tích lũy của địa phương vẫn còn hạn chế, nhưng Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã An Quang vẫn chủ trương tiếp tục tạo mọi điều kiện để từng bước xây còn hạn chế nhưng Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã An Quang Về kết cấu hạ tầng, mặc dù kinh phí tích lũy của địa phương. dựng hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, đường, trường, trạm... Thực hiện Chương trình 135 của Chính phủ, hàng năm chính quyền xã An Quang đã trích kinh phí hàng trăm triệu đồng cho xây dựng kết cấu hạ tầng, nhờ vậy đến năm 1995 mạng lưới điện quốc gia được đưa về tới xã, đường giao thông nông thôn, các công trình phục vụ nước sinh hoạt, công trình thủy lợi như mương đập lớn, nhỏ trong xã được xây dựng, tu sửa.
Công tác văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao cũng đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, phát huy bản sắc của đồng bào dẫn tộc H’rê. Trong các ngày lễ lớn và tết cổ truyền đều tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao sôi nổi, thu hút nhiều người dân tham gia. Việc xây dựng đời sống văn hóa trong nhân dân được quan tâm, đến năm 1995 có hơn 200 hộ đăng kí thực hiện tốt 5 nội dung gia đình văn hóa, kết quả là có 30 hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa và 1 khu dân cư đạt làng văn hóa.
Bộ phận thông tin thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho nhân dân trong xã. Việc cúng bói, nghi kỵ, gây mất đoàn kết đã giảm nhiều. Đảng ủy, Ủy ban nhân dân và các đoàn thể xã An Quang làm tốt công tác tuyên truyền nghị quyết của Đảng, tuyên truyền hướng dẫn bà con nhân dân thực hiện lối sống mới, loại bỏ những tệ nạn lạc hậu, duy trì và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp. Nhân dân được tiếp cận với báo chí, sách và nghe đài, các hoạt động văn hóa văn nghệ được phát huy góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, tuy nhiên do đặc thù vùng sâu nên sinh hoạt văn hóa gặp nhiều trở ngại.
Quán triệt chủ trương của Đảng về đổi mới giáo dục và đào tạo, sự nghiệp giáo dục ở xã An Quang có bước phát triển khá, hệ thống trường lớp sắp xếp hợp lý, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất. Đến năm 1995 giáo dục xóa nạn mù chữ và phổ cập tiểu học cho các cháu trong độ tuổi được đi học đạt 80%. Số học sinh đến trường được duy trì ổn định và tăng qua các năm. Trên địa bàn xã tổ chức dạy học từ lớp 1 đến lớp 4, với tổng cộng là 225 học sinh theo học; trong đó có 85 học sinh lớp 1, 42 học sinh lớp 2, 75 học sinh lớp 3 và 23 học sinh lớp 4. Kết quả học tập của học sinh đạt từ trung bình khá trở lên là 70%. Số học sinh yếu kém còn nhiều, cơ sở trường lớp còn tạm bợ, số giáo viên biên chế còn thiếu so với yêu cầu, số giáo viên hợp đồng ngắn hạn chiếm 50%. Điều này cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng dạy và học.
Thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 15/4/1993 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, ngành y tế An Lão nói chung từng bước đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân. Trạm Y tế xã An Quang được xây dựng và đầu tư trang thiết bị y tế đầy đủ hơn. Công tác tuyên truyền giáo dục vận động nhân dân thực hiện vệ sinh dịch bệnh được đẩy mạnh. Cán bộ y tế xuống tận làng để phát thuốc phòng chống sốt rét, phát mùng màn cho nhân dân. Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ y tế của xã được Đảng ủy và chính quyền quan tâm, cử một số con em địa phương có trình độ văn hóa đi học đội ngũ cán bộ y tế của xã được Đảng ủy và chính quyền quan lớp y tá sơ học do huyện tổ chức trong thời gian 6 tháng để về xã công tác. Tích cực tuyên truyền phòng chống dịch bệnh; riêng năm 1994 tổ chức 3 đợt tuyên truyền tập trung về phòng chống dịch bệnh với sự tham gia của 437 lượt người; điều trị 221 người bệnh, tiêm chủng mở rộng cho 132 trẻ em[92].
Nhìn chung, từ năm 1986 đến năm 1995, cán bộ, đảng viên và nhân dân xã An Quang đã nô vượt qua khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ kinh tế, xã hội đề ra. Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế - xã hội có sự phát triển ổn định hơn trước. Đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao. Bên cạnh vẫn còn những hạn chế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn còn chậm, tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán còn phổ biến, chuyển dịch cơ cấu mùa vụ và thay đổi giống cấy trồng, vật nuôi chậm, giá trị kinh tế đạt thấp, tài nguyên rừng chưa được bảo vệ và khai thác tốt, tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm tình trạng du canh, du cư, phá rừng làm rẫy trái phép chưa được ngăn chặn triệt để, còn tập tục lạc hậu trong nhân dân.
3. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, bảo đảm công tác quốc phòng - an ninh
Ngày 19/02/1986, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 15/QĐ-HĐBT về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số xã, thị trấn của các huyện thuộc tỉnh Nghĩa Bình. Theo Quyết định điều chỉnh, Huyện An Lão gồm có 9 xã, trong đó có 2 xã miền núi và 7 xã vùng cao. An Quang và An Hòa là 2 xã của huyện An Lão có sự điều chỉnh; theo đó xã An Hòa được chia thành hai xã: An Hòa và An Tân, còn xã An Quang cũng được chia thành hai xã: An Quang và An Nghĩa. Xã An Quang mới[93] lúc này có diện tích tự nhiên 3.850 ha với khoảng 200 hộ và 824 nhân khẩu. Địa giới xã An Quang mới là phía Đông giáp xã An Hòa, phía Tây giáp xã An Toàn, phía Nam giáp xã An Nghĩa và phía Bắc giáp xã An Trung[94].
Về xây dựng Đảng
Thực hiện Nghị quyết 04-NQ/TW ngày 12/9/1987 của Bộ Chính trị về cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng và bộ máy Nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã hội; Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 24/8/1989 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về một số vấn đề cấp bách trong công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế, Đảng ủy xã An Quang triển khai thực hiện công tác xây dựng Đảng trên cả 3 mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức; đảm bảo các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt từ đảng viên đến tổ đảng, chi bộ. Thường xuyên tổ chức học tập, tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Công tác xây dựng và phát triển đảng viên được quan tâm; hàng năm tổ chức các lớp bồi dưỡng cảm tình Đảng cho đoàn viên ưu tú. Thực hiện kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ, năm 1994, Đảng ủy xã cử 15 đồng chí đi học tại Trường Chính trị của huyện, tỉnh. Tính đến năm 1995, số lượng đảng viên của toàn Đảng bộ là 45 đồng chí (42 nam, 3 nữ); 41 đảng viên có trình độ tiểu học, 3 đảng viên có trình độ trung học cơ sở và 1 đảng viên có trình độ trung học phổ thông. Tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân xã là 15 thì có 13 đại biểu là đảng viên[95].
Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện thường xuyên, liên tục theo kế hoạch. Năm 1994, Đảng ủy xã thực hiện kỷ luật 2 đảng viên với hình thức cảnh cáo vì vi phạm nguyên tắc sinh hoạt đảng và không đóng đảng phí đúng quy định. Sức chiến đấu của các tổ chức đảng từng bước được nâng lên. Số lượng đảng viên và tổ chức cơ sở đảng yếu kém giảm dần, đảng viên vi phạm kỷ luật được xử lý nghiêm minh. Thực hiện quy hoạch và xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ trước mắt và lâu dài.
Trong việc chỉnh đốn Đảng, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 (khóa VII), từ Đảng ủy đến các Chi bộ đều quán triệt sâu sắc. Thường xuyên tiến hành kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng và phân tích chất lượng đảng viên theo định kỳ. Phương thức lãnh đạo của Đảng ủy và các chi ủy được cải tiến và đổi mới một bước. Đội ngũ đảng viên luôn giữ vững phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, luôn luôn được quần chúng nhân dân tín nhiệm.
Trong những năm 1986 -1995 dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, từng cấp ủy Đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân đã nếu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, động viên toàn dân hăng hái thi đua lao động sản xuất, công tác, học tập, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng và xây dựng hệ thống chính trị của xã tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng còn chuyển biến chậm, chưa đáp ứng nhu cầu của tình hình mới; trình độ, năng lực của của một số đảng viên còn nhiều hạn chế. Công tác phát triển đảng viên chưa đạt yêu cầu.
Về công tác chính quyền, đoàn thể
Quán triệt Thông tư 11-TT/TW ngày 19/8/1987 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về sắp xếp lại tổ chức các cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể, thực hiện sự chỉ đạo của Huyện ủy An Lão, Đảng ủy và Ủy ban nhân dân xã An Quang luôn quan tâm công tác kiện toàn bộ máy chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng. Từ năm 1986 đến năm 1995, bộ máy chính quyền xã An Quang luôn được kiện toàn, các phòng ban được sắp xếp tinh gọn, đội ngũ cán bộ không ngừng được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ.
Công tác bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp được thực hiện nghiêm túc, theo đúng luật định. Ủy ban nhân dân xã thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý Nhà nước, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ được nâng lên, khả năng tiếp cận và xử lý công việc nhanh nhạy hơn. Trong điều hành quản lý bằng pháp luật và thực hiện chức năng quản lý hành chính, công tác triển khai các chương trình kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của bộ máy chính quyền xã có sự chuyển biến tích cực. Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã có nhiều tiến bộ, thể hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức, lắng nghe ý kiến của nhân dân thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri theo định kỳ, đảm bảo quyền lợi cho nhân dân. Đại biểu Hội đồng nhân dân xã nêu cao tinh thần, trách nhiệm, thực hiện đúng luật và quy chế đề ra.
Đảng ủy và Ủy ban nhân dân chỉ đạo các các ngành, các thôn phối hợp giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại cũng như ý kiến nguyện vọng chính đáng của công dân. Hoạt động của các cơ quan tư pháp đi vào nề nếp. Công tác phổ biến và tuyên truyền, giáo dục pháp luật tiến hành thường xuyên; công tác thanh tra bảo đảm kịp thời; biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm có hiệu quả; pháp chế xã hội chủ nghĩa được tăng cường, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội cơ bản được giữ vững.
Thực hiện Nghị quyết số 8B-NQ/TW ngày 27/3/1990 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa VI) về đổi mới công tác quần chúng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, dưới sự hướng dẫn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện An Lão, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã An Quang chú trọng công tác củng cố khối đoàn kết toàn dân, vận động xây dựng quỹ bảo thọ, quỹ tiền phương, phát triển kinh tế tập thể, kinh tế gia đình, tham gia trồng cây gây rừng, vận động mua công trái xây dựng Tổ quốc.
Các tổ chức đoàn, hội của xã An Quang luôn nêu cao tinh thần gương mẫu đi đầu trong các hoạt động tại địa phương. Hội Nông dân xã nếu theo tinh thần của huyện tích cực lao động sản xuất, vận động nhân dân lao động phát triển kinh tế, xây dựng và củng cố hợp tác xã, tham gia thực hiện tốt công tác khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động. Hội Phụ nữ xã cũng phát huy tốt vai trò của mình hướng đến mục tiêu là xây dựng người phụ nữ thời đại mới vừa lao động sản xuất giỏi vừa tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phát huy vai trò xung kích trong nhiều lĩnh vực, thanh niên đoàn viên trong xã được bồi dưỡng lý luận chính trị, rèn luyện bản lĩnh vững vàng, tiên phong trong các công việc như nạo vét kênh mương, vệ sinh môi trường, Năm 1994, Xã đoàn An Quang kết nạp 16 đoàn viên mới, giới thiệu 22 đoàn viên ưu tú tham gia học lớp cảm tình Đảng.
Nhìn chung, từ năm 1986 đến năm 1995, sự lãnh đạo của Đảng ủy đối với Mặt trận và các đoàn thể quần chúng được tăng cường. Tổ chức Mặt trận, đoàn thể quần chúng củng cố và mở rộng, các phong trào quần chúng được phát động đều khắp và thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Các phong trào và các cuộc vận động lớn gắn liền với Mặt trận và đoàn thể như “Xóa đói giảm nghèo”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Đoàn kết dân tộc”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ nước”, “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi con khỏe, dạy con ngoan”,... đạt kết quả quan trọng.
Song song với những kết quả đạt được về kinh tế - xã hội, công tác quốc phòng gắn với trật tự an ninh nhân dân cũng đem lại kết quả tích cực. Đảng ủy lãnh đạo chăm lo xây dựng lực lượng dân quân, xây dựng thế trận lòng dân, nâng cao bản chính trị, sức chiến đấu của lực lượng dân quân, sẵn sàng chiến đấu. Củng cố lực lượng công an xã, thực hiện tốt việc đăng ký tạm lĩnh chính trị cho lực lượng dân quân, sẵn sàng chiến đấu. trú tạm vắng, nâng cao ý thức cảnh giác với âm mưu phá hoại của kẻ thù. Do đó tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã được giữ vững, đặc biệt giải quyết kịp thời các vụ nghi kỵ lẫn nhau, uống rượu, phá rừng trái phép trong địa phương. Chính sách hậu phương quân đội được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm, tạo điều kiện cho các gia đình có người thân nhập ngũ, hàng năm giao quân đạt 100%, công tác xây dựng lực lượng và huấn luyện duy trì thường xuyên, công tác chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội được chú trọng. Năm 1994, Ban Chỉ huy xã đội có 5 đồng chí, lực lượng dẫn quân cơ động có 21 đồng chí, lực lượng tại chỗ 65 đồng chí; quân dự bị động viên có 7 đồng chí.
Hội Cựu chiến binh xã sinh hoạt thường xuyên, luôn nắm bắt tình hình chính trị, xã hội, về diễn biến hòa bình và chống âm mưu diễn biến hòa bình. Những cựu chiến binh dù không còn phục vụ tại ngũ nhưng với bản chất của người lính bộ đội cụ Hồ đã tham gia phát triển kinh tế ở địa phương, thực hiện “đào ao, nuôi cá, cùng với lực lượng dân quân tự vệ mua nuôi giống cá mới 35.000 con, trồng 2.500 cây quế, trồng 12.000 cây mì su”[96]. Hoạt động của Hội Cựu chiến binh xã được Hội Cựu chiến binh tỉnh trao tặng bằng khen.
Qua 10 năm triển khai thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (1986 - 1995) và thực hiện các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ II (1986 - 1989), thứ III (1989 - 1991), lần thứ IV (1991 - 1994) và lần thứ V (1994 - 1996), sự nghiệp đổi mới của An Quang đạt nhiều thành tựu về nhiều mặt. Khắc phục được hậu quả khủng hoảng kinh tế - xã hội, nền kinh tế từng bước chuyển biến theo hướng kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, cơ chế quản lý thị trường được xác lập, kinh tế tư nhân, kinh tế vườn và hộ gia đình được hình thành. Văn hóa - xã hội phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào ngày càng ổn định và nâng cao. Đảng bộ đề ra những chủ trương, biện pháp phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Bộ máy chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng được kiện toàn một bước, nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng. Những thành tựu nói trên góp phần khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, tạo cơ sở để Đảng bộ và nhân dân An Quang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới.
Bên cạnh những thành tựu, tình hình kinh tế - xã hội xã An Quang vẫn còn những hạn chế. Kinh tế nông nghiệp vẫn chưa tương xứng với tiềm năng; hiệu quả sử dụng đất đai còn thấp; chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chậm; tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp chưa phát triển; đời sống của nhân dân có cao hơn so với trước, nhưng vẫn còn thấp hơn so với mức bình quân chung của huyện An Lão. Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở chưa theo kịp yêu cầu; đội ngũ cán bộ còn thiếu,...
Mặc dù kinh tế - xã hội xã An Quang còn một số hạn chế, song thành tựu đạt được vẫn là cơ bản, góp phần khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Yêu cầu đặt ra đối với Đảng bộ xã An Quang là tiến hành tổng kết thực tiễn, vận dụng linh hoạt chủ trương, đường lối của Đảng, khắc phục hạn chế, phát huy những thành tựu đạt được, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới để xây dựng quê hương giàu mạnh, văn minh trong những năm tiếp theo.
III. AN QUANG BƯỚC ĐẦU THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN (1996 - 2005)
1. Tình hình và chủ trương của Đảng các cấp
Từ cuối năm 1986 đến năm 1995, nước ta đã trải năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng với hai kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm (1986 - 1990 và 1991 - 1995). Qua qua 10 chặng đường 10 năm đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã phát huy cao độ nội lực của dân tộc, kiên trì mục tiêu cách mạng xã hội chủ nghĩa vì độc lập dân tộc, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, văn minh, giành được nhiều thành tựu to lớn. Tuy còn một số mặt yếu kém, chưa vững chắc, song nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Đất nước có điều kiện để chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII năm 1996, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức phát động công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm “Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”[97]. Có thể nói, từ chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đảng tiếp tục thổi vào công cuộc đổi mới một luồng sinh khí mới, tạo động lực đưa đất nước bước sang thời kỳ phát triển mới.
Sau 10 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện, tỉnh Bình Định nói chung và huyện An Lão nói riêng cũng có nhiều chuyển biến khởi sắc. Nền kinh tế tăng trưởng khá và dần đi vào ổn định, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực, cơ chế quản lí từng bước được đổi mới, tiềm năng các thành phần kinh tế được phát huy. Các lĩnh vực kinh tế, xã hội phát triển, thu nhập và mức sống của nhân dân được cải thiện, chính trị ổn định, quốc phòng an ninh được đảm bảo, dân chủ xã hội được tăng cường, hoạt động của hệ thống chính trị và công tác xây dựng Đảng tiến bộ.
Thực hiện Chỉ thị số 59-CT/TW ngày 22/5/1995 của Ban Bí Thư Trung ương Đảng (khóa VII) về đại hội đảng bộ các cấp, từ ngày 7 đến ngày 9/5/1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XV diễn ra tại thành phố Quy Nhơn. Đại hội đánh giá khách quan những thuận lợi, khó khăn của tỉnh, đồng thời đề ra phương hướng, mục tiêu tổng quát về phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1996 - 2000 là: “Đảng bộ và nhân dân tỉnh (Bình Định) cần nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, khai thác có hiệu quả các nguồn lực để chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ GDP. Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[98].
Trong 2 ngày 20 và 21/4/1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện An Lão khóa XIV tiến hành. Đại hội xác định phương hướng, mục tiêu tổng quát về phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1996 - 2000 là: “Phát triển nền kinh tế theo hướng lâm - nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên cơ sở công nghiệp hóa hiện đại hóa. Tạo ra sự chuyển biến quan trọng từ sản xuất tự túc sang sản xuất hàng hóa. Tiếp tục củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, thực hiện thắng lợi mục tiêu xóa đói giảm nghèo và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân”[99].
Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng cấp trên và Huyện ủy An Lão, ngày 11 tháng 2 năm 1996, Đại hội Đảng bộ xã An Quang lần thứ VI, nhiệm kỳ 1996 - 2000 diễn ra tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã, với sự tham dự của 45 đảng viên. Đại hội thảo luận, góp ý dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ huyện An Lão lần thứ XIV; Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ xã khóa V trình tại Đại hội lần thứ VI; Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ xã khóa V. Đại hội nghiêm túc đánh giá những thành tựu và hạn chế của Đảng bộ xã nhiệm kỳ 1994 - 1996, rút ra những kinh nghiệm thực tiễn.
Trên cơ sở đánh giá tình hình kinh tế - xã hội địa phương và nắm bắt yêu cầu của thực tiễn đặt ra, Đại hội xác định phương hướng, nhiệm vụ của Đảng bộ trong nhiệm kỳ 1996 - 2000 là: Tập trung mọi nguồn lực, phát triển nền kinh tế lâm - nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên cơ sở công nghiệp hóa hiện đại hóa; bước đầu chuyển sang sản xuất hàng hóa; củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; không ngừng nâng cao cuộc sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Đại hội Đảng bộ xã An Quang lần thứ VI đã đánh dấu bước phát triển mới của xã trong giai đoạn chuyển sang thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa[100].
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ xã nhiệm kỳ 1996 - 2000 (khóa VI) có 9 đồng chí. Đồng chí Đinh Văn Ruông (Tám) tiếp tục được bầu làm Bí thư Đảng ủy xã, đồng chí Đinh Văn Nhua (Quý) tiếp tục được bầu làm Phó Bí thư thường trực Đảng ủy xã và đồng chí Đinh Văn Rỗi tiếp tục được bầu làm Phó Bí thư Đảng ủy xã, phụ trách công tác chính quyền. Năm 1997, đồng chí Đinh Văn Nhua (Quý) được bầu làm Bí thư Đảng ủy xã thay đồng chí Đinh Văn Ruông (Tám), Đồng chí Đinh Văn Phia (Thật) được bầu làm Phó Bí thư thường trực Đảng ủy xã và đồng chí Đinh Văn Đơ được bầu làm Phó Bí thư Đảng ủy xã, phụ trách công tác chính quyền.
Nhằm đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội lần của Đảng bộ xã An Quang trong nhiệm kỳ mới. Thực hiện sự thứ VI, nhiệm kỳ 1996 - 2000, đề ra phương hướng, nhiệm vụ chỉ đạo của các tổ chức Đảng cấp trên mà trực tiếp là Huyện ủy An Lão, ngày 6 tháng 10 năm 2000, Đại hội Đảng bộ xã An Quang lần thứ VII nhiệm kỳ 2000 - 2005 diễn ra tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã, với sự tham dự của 48 đảng viên, Đại hội thảo luận, góp ý dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ huyện An Lão lần thứ XV; Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ xã khóa VI trình tại Đại hội lần thứ VII; Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ xã khóa VI. Đại hội nghiêm túc thảo luận, đánh giá những thành tựu và hạn chế của Đảng ủy xã nhiệm kỳ 1996 - 2000, rút ra những kinh nghiệm thực tiễn.
Trên cơ sở đánh giá tình hình kinh tế - xã hội địa phương và nắm bắt yêu cầu của thực tiễn đặt ra, Đại hội xác định phương hướng, nhiệm vụ của Đảng bộ xã An Quang, nhiệm kỳ 2000 - 2005 là: Phát huy truyền thống cách mạng kiên cường và những thành tích đạt được trong những năm qua; tiếp tục lãnh đạo thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đảng viên, nhân dân cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất và khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế, xã hội, lợi thế của địa phương, đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng, ổn định đời sống, góp phần xóa đói giảm nghèo trong nhân dân, đảm bảo quốc phòng - an ninh, xây dựng chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể vững mạnh, đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước[101].
Đại hội đề ra các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của Đảng bộ xã đến năm 2005 là đẩy mạnh phát triển nông - lâm nghiệp, mở rộng diện tích, thâm canh tăng vụ, tăng diện tích trồng lúa, trồng rừng, đẩy mạnh chăn nuôi gia cầm và cá nước ngọt. Tranh thủ sự giúp đỡ của cấp trên đầu tư cho giao thông, thủy lợi, máy phát điện để cung cấp điện cho dân. Vận động 100% con em trong độ tuổi đi học đến trường, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, hoàn thành phổ cập giáo dục cơ sở. Nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác y tế, hạ tỷ lệ tăng dân số, thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo. Tăng cường xây dựng Đảng vững về tư tưởng, mạnh về tổ chức, bảo đảm sự thống nhất và ý chí hành động trong Đảng, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, đảng viên chủ chốt. Xây dựng, củng cố chính quyền và đoàn thể vững mạnh, bảo đảm an ninh - quốc phòng.
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2000 - 2005 (khóa VII) có 9 đồng chí. Đồng chí Đinh Văn Rỗi được bầu làm Bí thư Đảng ủy xã, đồng chí Đinh Văn Hùng được bầu làm Phó Bí thư trực Đảng ủy xã và đồng chí Đinh Văn Đơ tiếp tục được bầu làm Phó Bí thư Đảng ủy xã, phụ trách công tác chính quyền.
Dưới ánh sáng của Nghị quyết đại hội Đảng các cấp, được sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện ủy An Lão, Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quân chúng xã An Quang đoàn kết, quyết tâm ra sức thực hiện phương hướng, nhiệm vụ và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.
2. Phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện định canh, định cư và xây dựng kết cấu hạ tầng
Phát huy thế mạnh và tiềm năng, Đảng ủy xã An Quang luôn xác định hoạt động sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của địa phương. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Bình Định, xã An Quang hoàn thành việc giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định, lâu dài đến từng hộ nông dân, thực hiện khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, phát triển các giống cây trồng, vật nuôi, tiến hành quy hoạch đất trống đồi trọc, tiếp tục phát triển sản xuất nông lâm nghiệp.
Để đảm bảo lương thực cho nhân dân, chính quyền xã phát động nhân dân tiếp tục khai hoang và cải tạo đồng ruộng, phát triển thủy lợi, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhất là đưa vào gieo trồng ở địa phương những giống lúa có năng xuất cao. Nhờ vậy, năng suất lúa của xã không ngừng được tăng lên; năm 1998, đạt từ 28 đến 30 tạ/ha)[102]. Đến năm 2005, toàn xã xây dựng được 33 đập nước, trong đó 5 đập kiên cố là đập Nước Lã (Thôn 2), đập Nước Rềnh và đập Suối Cát (thôn 3), đập Nước Rung, đập nước Côn (Thôn 4); tổng diện tích gieo sạ của xã là 63,5 ha, năng suất bình quân đạt 38 tạ/ha gieo trồng, tổng sản lượng thu được là 241,3 tấn đạt 85,8% kế hoạch đề ra. Bên cạnh cây lúa, nhân dân xã An Quang còn gieo trồng các loại cây họ đậu đạt tổng sản lượng là 4,8 tấn, gieo trồng 7,5 ha ngô cho năng suất 30 tạ/ha, trồng 1,5 ha tiêu, năng suất bình quân 7 tạ/ha, trống 200 ha mì cao sản, năng suất bình quân đạt 120 tạ/1 ha, với tổng sản lượng đạt được là 24.000 tấn mì[103]...
Ở những vùng đất trống đồi trọc, Đảng ủy chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã tiến hành quy hoạch, xây dựng các vùng chuyên trồng cây công nghiệp dài ngày có hiệu quả kinh tế cao. Đến năm 2005, toàn xã có 50 ha đào, 10 ha xoài,.... Chính quyền xã còn phối hợp ngành lâm nghiệp vận động, hướng dẫn nhân dân trồng mới 10 ha xương mộc, 10 ha cây ăn quả, 20 ha keo lại và 5 ha keo lá tràm.
Về chăn nuôi, Đảng ủy và chính quyền xã hỗ trợ và hướng dẫn nhân dân xây dựng chuồng trại để chăn nuôi trâu, bò, heo. Năm 2005, toàn xã có 220 con trâu, 469 con bò (trong đó có 39 bò lai), heo có 370 con... Công tác tiêm phòng cho gia súc cũng được chú trọng. Chính quyền xã An Quang thường xuyên phối hợp với Trạm Thú y huyện An Lão tổ chức tiêm phòng cho tổng đàn gia súc đạt 85%. Tận dụng mặt nước, nhân dân nuôi cá nước ngọt nhằm cung cấp thực phẩm tại chỗ. Toàn xã An Quang có tổng diện tích mặt nước 4.000 m, thả 6.800 con cá giống, chủ yếu là cá mè vinh, cá trám, cá chép...
Đối với ngành lâm nghiệp, thực hiện chủ trương giao đất khoán rừng cho nhân dân quản lý chăm sóc. Đến năm 2005, xã An Quang hoàn thành việc giao rừng nguyên sinh cho nhân lực lượng phối hợp với công an tổ chức bảo vệ rừng, tiến hành dân với tổng diện tích là 1.400 ha. Ngành kiếm lâm tăng cường các đợt truy quét nhằm ngăn chặn nạn khai thác, vận chuyển gỗ và săn bắt thú rừng trái phép trên địa bàn.
Công tác định canh, định cư cơ bản ổn định. Năm 2000 phong trào lập vườn, xây dựng phát triển kinh tế VAC có bước tiến khá. Phong trào sản xuất giỏi tại địa bàn định canh, định cư góp phần thực hiện xóa đói, giảm nghèo...
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp được khuyến khích phát triển. Thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU, ngày 31/10/1997 của Tỉnh ủy Bình Định về phát triển tiểu thủ công nghiệp đến năm 2000, Huyện ủy An Lão chỉ đạo chính quyền đưa ra nhiều biện pháp nhằm khuyến khích, thúc đẩy tiểu thủ công nghiệp phát triển; đặc biệt chú trọng sản xuất các mặt hàng có nguồn nguyên liệu tại địa phương. Một số ngành nghề thủ công truyền thống vẫn tiếp tục được duy trì tại địa phương như đan đát, dệt, nghề rèn, mộc... Nhờ vậy, nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân được đáp ứng cơ bản.
Tranh thủ nguồn vốn của cấp trên, chính quyền xã kêu gọi đầu tư cải tạo, sửa chữa, nâng cấp hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quần chúng nhân dân đi lại, thúc đẩy hoạt động thương nghiệp phát triển. Tuyến đường liên xã từ An Quang đi An Tân được làm mới, việc giao lưu buôn bán với các vùng lân cận thuận tiện hơn.
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy An Lão, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được đẩy mạnh. Các hoạt động văn hóa thông tin, truyền thanh, truyền hình bám sát và kịp thời phục vụ nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Ban Văn hóa của xã thường xuyên phối hợp với Phòng Văn hóa huyện phục vụ văn nghệ cho nhân dân trong dịp tết.
Đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc lồng ghép các chương trình giao lưu văn hóa văn nghệ với việc tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt các vấn đề liên quan như phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Năm 2003, xã An Quang có 44 hộ gia đình đạt danh hiệu Gia đình văn hóa xuất sắc, 65 hộ gia đình đạt danh hiệu Gia đình văn hóa khá, có 2 thôn được công nhận danh hiệu Làng văn hóa cấp huyện, 1 thôn được công nhận là Làng văn hóa cấp tỉnh. Đến năm 2004, có 62 hộ gia đình đạt danh hiệu Gia đình văn hóa xuất sắc, 99 hộ gia đình đạt danh hiệu Gia đình văn hóa khá, có 2 thôn được công nhận Làng văn hóa cấp huyện[104]. Bên cạnh đó vận động nhân dân tham gia các hoạt động thể dục thể thao tại địa phương và do huyện An Lão tổ chức nhằm đẩy mạnh tinh thần thể dục thể thao rèn luyện sức khỏe cho nhân dân.
Thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TU, ngày 10/6/1997, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định về mục tiêu đạt chuẩn quốc gia về giáo dục đào tạo, xóa mù chữ trong phạm vi toàn tỉnh, Đảng bộ huyện An Lão chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền thường xuyên quan tâm đến quy mô trường lớp để đáp ứng nhu cầu phát triển, sự nghiệp giáo dục. Tiếp đó ngày 4/6/2002, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị 07-CT/TU về việc đẩy mạnh thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở, yêu cầu các huyện ủy, thành ủy tập trung chỉ đạo phấn đấu đến năm 2003 tất cả các huyện, thành phố hoàn thành phố cập công tác giáo dục trung học cơ sở. Dưới sự lãnh đạo Đảng ủy, chính quyền xã An Quang phối hợp với ngành giáo dục địa phương tiếp tục được duy trì và phát triển. Hệ thống trường học được tiếp tục xây dựng, mở rộng.
Đến năm 2005, toàn xã có 13 lớp tiểu học (174 học sinh), 4 lớp mầm non (52 học sinh) với 23 giáo viên và nhân viên. Trường Trung học cơ sở bán trú Đinh Ruối có tổng số học sinh là 215/7 lớp với 28 giáo viên và nhân viên. Trường lớp được trang bị các loại thiết bị và đồ dùng phục vụ cho nhiệm vụ dạy và học, đảm bảo số lượng, chất lượng. Hoàn thành công tác phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở đạt 99%, tỷ lệ xóa mù chữ đạt 76,4%, học sinh đúng độ tuổi đến trường đạt tỷ lệ 100%.
Hoạt động chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có nhiều tiến bộ. Công tác y tế dự phòng và vệ sinh an toàn thực phẩm được chú trọng và duy trì thường xuyên, chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên. Cơ sở y tế được tăng cường, trạm y tế được xây dựng mới, trưởng trạm y tế có trình độ là y sĩ, thiết bị y tế được trang bị đầy đủ đáp ứng nhu cầu khám và điều trị bệnh cho nhân dân. Các chương trình y tế quốc gia được triển khai rộng khắp, các chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình được thực hiện tốt.
Trạm Y tế xã có 3 y sĩ và 5 cán bộ y tế thôn bản, với đầy đủ trang thiết bị y tế khám chữa bệnh cho nhân dân. Riêng năm 2005, Trạm Y tế xã thực hiện khám và điều trị tại trạm là 229 ca (có 2 ca chuyển viện); khám phụ khoa cho 69 phụ nữ; phối hợp với cơ sở y tế cấp trên khám mắt cho 85 học sinh tiểu học. Công tác tiêm chủng mở rộng được thực hiện cho 45 trẻ em (tiêm mũi 1 và mũi 3 phòng 6 bệnh) đạt tỷ lệ 100%, tiêm chủng cho 19 phụ nữ có thai (đạt 100%).
Công tác phòng, chống suy dinh dưỡng cho trẻ em được ngành y tế quan tâm. Trạm Y tế xã còn phối hợp với Trung tâm Y tế huyện An Lão thực hiện tẩm màn cho nhân dân để phòng chống bệnh sốt rét; vận động nhân dân xây dựng môi trường xanh sạch đẹp, ăn ở hợp vệ sinh, tuyên truyền mọi người dân ý thức phòng chống bệnh sốt xuất huyết và sốt rét.
Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được quan tâm. Cán bộ dân số của xã làm tốt việc tuyên truyền, tư vấn các biện pháp tránh thai cho các đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ. Đội ngũ cộng tác viên ở từng thôn bản hoạt động có hiệu quả, vận động nhân dân dùng các biện pháp tránh thai, giảm tỷ lệ sinh con thứ 3.
Công tác chính sách xã hội được Đảng ủy và chính quyền xã An Quang quan tâm thường xuyên. Hàng năm các đối tượng chính sách, người có công cách mạng được thăm hỏi, tặng quà nhân dịp lễ, tết. Bộ phận chức năng phụ trách công tác thương binh - xã hội thực hiện tốt việc chi trả chế độ chính sách hàng tháng, đảm bảo đúng thời gian quy định.
Chính quyền xã An Quang tích cực vận động, tìm nguồn kinh phí để giúp cho các hộ thuộc diện chính sách của địa thuộc diện chính sách, hỗ trợ 112,5 triệu đồng xây dựng 32 cho xã An Quang 38 triệu đồng xây dựng 8 nhà ở cho các hộ phương. Năm 2001, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo. Năm 2004, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định tiếp tục hỗ trợ 10 triệu đồng xây dựng 2 nhà ở cho con em của đối tượng là thương binh liệt sĩ. Năm 2005, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định tiếp tục hỗ trợ 64 triệu đồng xây sách xã hội Việt Nam cũng hỗ trợ kinh phí 50 triệu đồng để dựng 8 nhà ở cho các hộ nghèo; Công đoàn Ngân hàng chính xây dựng 1 ngôi nhà cho gia đình là con liệt sĩ. Ngoài ra, hàng năm huyện An Lão còn hỗ trợ hàng tấn gạo để giải quyết thiếu ăn, thiếu đói giáp hạt cho nhân dân[105].
3. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, bảo đảm công tác quốc phòng - an ninh
Công tác xây dựng Đảng luôn được quan tâm, việc kiện toàn Ban Chấp hành Đảng bộ xã được thực hiện theo kế hoạch. Đảng ủy quan tâm đến việc xây dựng các chi bộ cơ sở, từ năm 1996 đến năm 2005 Đảng bộ xã An Quang có 5 chi bộ trực thuộc, trong đó 4 chi bộ ở 4 thôn và 1 chi bộ nhà trường.
Công tác chính trị tư tưởng luôn được chú trọng, nhất là việc phổ biến tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ đảng viên về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương đổi mới của Đảng. Nhờ làm tốt công tác bồi dưỡng giáo dục lý luận chính trị, toàn thể cán bộ đảng viên đều có lập trường chính trị vững vàng, luôn giữ vững bản chất cách mạng. Công tác phát triển đảng viên mới được coi trọng, việc xem xét bồi dưỡng kết nạp đảng viên một cách nghiêm túc và đúng quy định nhằm tuyển lựa những công dân ưu tú đứng vào hàng ngũ của Đảng.
Quán triệt Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và kế hoạch quy hoạch cán bộ và quy định bổ nhiệm cán bộ của Tỉnh ủy, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được Đảng ủy và chính quyền quan tâm thường xuyên. Ngoài việc cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị sơ - trung cấp, Đảng ủy xã còn sắp xếp, khuyến khích các tổ chức đoàn thể tham gia bồi dưỡng công tác dân vận, trang bị kiến thức quản lý nhà nước và tham gia học tập văn hóa, chuyên môn.
Hoạt động Hội đồng nhân dân xã ngày càng hiệu quả. Từ năm 1996 đến năm 2005, phương thức hoạt động của Hội đồng nhân dân xã có nhiều đổi mới, chất lượng hoạt động có tiến bộ, đã ban hành những quyết định, giải pháp thiết thực trong phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Thực hiện tốt hơn chức năng giám sát, kiểm tra việc triển khai thực hiện nghị quyết Hội đồng nhân dân và các chính sách pháp luật của Nhà nước. Hội đồng nhân dân xã An Quang nêu cao tinh thần trách nhiệm của mình trước cử tri, định kỳ tổ chức tiếp xúc cử tri, tiếp thu và giải quyết những vấn đề bức xúc của cử tri.
Ủy ban nhân dân xã An Quang có nhiều cố gắng trong việc thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ được nâng lên, khả năng tiếp cận và xử lý công việc nhanh gọn hơn. Các cấp đơn thư khiếu nại cũng như kiến nghị, nguyện vọng chính các ngành có sự phối hợp tốt hơn trong công việc giải quyết đơn thư khiếu nại cũng như kiến nghị chính đáng của công dân.
Đến năm 2005, Mặt trận và các đoàn thể quân chúng ở động phù hợp với tình hình mới, chăm lo bảo vệ lợi ích vật xã An Quang từng bước đổi mới nội dung, phương thức hoạt chất và tinh thần cho hội viên, đoàn viên và quân chúng. Coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật, áp dụng vào sản xuất và đời sống thông qua phong trào hành động của từng hội, đoàn thể như: Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”, phong trào “Nông dân sản xuất giỏi”; “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi con khỏe, dạy con ngoan”, “Phụ nữ tích cực thực hành tiết kiệm xây dựng đất nước giàu mạnh”,.... được đẩy mạnh; phong trào “Thanh niên lập nghiệp” và “Tuổi trẻ giữ nước”, phát huy truyền thống và vai trò xung kích của thanh niên lập công trên trận tuyến mới, qua đó giới thiệu hàng trăm đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng.
Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy ngày 06/01/1997 về phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị, cơ quan quân sự phối hợp tốt với cấp ủy, chính quyền địa phương tiến hành giáo dục chính trị, tư tưởng cho lực lượng vũ trang địa phương, giáo dục quốc phòng, xây dựng thế trận lòng dân, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng. Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ thôn và điều hành cụ thể của chính quyền, lực lượng công an xã hoạt động tích cực, phối hợp tuyên truyền tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; có kế hoạch tổ chức tuần tra, canh gác nhân các ngày lễ lớn. Đảng ủy chỉ đạo xã đội và công an tổ chức các lớp học về Luật nghĩa vụ quân sự, tăng cường giáo dục các pháp lệnh của Nhà nước một cách sâu rộng trong cán bộ và nhân dân, hạn chế các tệ nạn xã hội diễn ra.
Trong bối cảnh các thế lực thù địch, phản động âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân, Đảng ủy xã luôn chủ động nêu cao tinh thần cảnh giác, quán triệt phát triển kinh tế gắn với củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân; đồng thời thường xuyên giáo dục ý thức quốc phòng, trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc cho các tầng lớp nhân dân, nhất là đối với thanh niên với nhiều hình thức mới mẻ sinh động. Chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang, quân dự bị động viên, dân quân cả về số lượng và chất lượng. Năm 2005, lực lượng dân quân tự vệ của xã An Quang có 45 người, thường xuyên được huấn luyện quân sự. Công tác tuyển quân hàng năm luôn đạt chỉ tiêu được giao.
Đảng bộ xã đã thực hiện chỉ đạo quân và dân trong địa bàn thực hiện tốt phong trào “3 không” do Huyện ủy phát động, xây dựng thế trận lòng dân, đảm bảo an ninh trật tự, làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Công tác xây dựng lực lượng công an được tăng cường, an ninh nông thôn được giữ vững, không để các phần tử chống phá có cơ hội lợi dụng hoạt động trên địa bàn.
Các tầng lớp nhân dân trong xã tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, phát huy nội lực, đoàn kết vượt qua khó khăn, thách thức đã tạo ra bước phát triển mới, thu được nhiều kết quả trong phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững ổn định chính trị. Tích cực vận động hội, đoàn viên tham gia các phong trào thi đua yêu nước nhất là “Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, xây dựng quỹ “Ngày vì người nghèo”, thực hiện nghĩa vụ ở cơ sở, góp phần thực hiện, đạt và vượt mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng trên địa bàn.
Nhìn chung, qua 10 năm (1996 - 2005) thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã An Quang lần thứ VI và lần thứ VII, mặc dù có những khó khăn, song Đảng bộ và nhân dân xã An Quang luôn đoàn kết nỗ lực vươn lên thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Nền kinh tế - xã hội của xã từng bước phát triển, kết cấu hạ tầng từng bước được hoàn thiện, lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế đạt được kết quả tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững ổn định; hệ thống chính trị được tăng cường hoạt động có hiệu quả hơn. Những kết quả đạt được xuất phát từ sự quán triệt và vận dụng đúng đắn, sáng tạo các chủ trương, nghị quyết của Đảng vào thực tiễn địa phương; sự đoàn kết, nỗ lực vươn lên của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã, đặc biệt sự quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi của Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện An Lão.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình thực hiện phát triển kinh tế - xã hội của xã An Quang còn một số hạn chế. Tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, tiềm năng rừng, đất đai, lao động khai thác hiệu quả chưa cao; việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi và trồng trọt còn hạn chế; công tác thủy lợi chưa đảm bảo nước tưới tiêu ở các cánh đồng; chuyển đổi, cơ cấu giống cây trồng, mùa vụ còn hạn chế; công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực đất đai, xây dựng cơ bản còn hạn chế; công tác phổ cập trung học, chống mù chữ còn thấp; ngành y tế chưa lồng ghép chương trình vệ sinh ăn uống và vệ sinh môi trường trong nhân dân; dự toán thu - chi ngân sách hàng năm còn thấp, làm ảnh hưởng đến sự hoạt động của các ban ngành ở xã; trật tự an toàn xã hội có nơi, có lúc còn chưa thật sự ổn định.
Mặc dù còn nhiều khó khăn và thách thức, song với những thành tựu đạt được, những bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới là những tiền đề quan trọng để Đảng bộ và nhân dân xã An Quang vững bước trên những chặng đường tiếp theo.
IV. AN QUANG TIẾP TỤC THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN (2005-2015)
1. Tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, bảo đảm công tác quốc phòng - an ninh (2005 - 2010)
Đến năm 2005, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch tăng cường thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ, chống phá cách mạng nước ta. Sau 20 năm đổi mới và 10 năm triển khai phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đất nước tiếp tục đạt nhiều thành tựu to lớn, đáng tự hào.
Trong chặng đường 20 năm (1986 - 2005) thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện ủy An Lão, Đảng bộ và nhân dân xã An Quang luôn đoàn kết, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Cơ sở vật chất phục vụ đời sống và sản xuất được tăng cường, giao thông và hệ thống kênh mương thủy lợi ngày càng hoàn thiện. Trong sản xuất, cơ giới hóa ngày càng cao, bước đầu theo hướng hiện đại. Cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp đang phát huy mạnh mẽ tiềm năng và lợi thế. Công tác định canh, định cư có nhiều chuyển biến tích cực, tình trạng du canh, du cư cơ bản được xóa bỏ; hệ thống giáo dục các cấp được mở rộng, trình độ dân trí được nâng lên một bước; cơ sở y tế đáp ứng kịp thời chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh cho nhân dân; hệ thống chính trị được củng cố vững chắc; an ninh, quốc phòng giữ vững.
Để phát huy thành tựu đạt được, khắc phục những khó khăn yếu kém, thực hiện sự chỉ đạo của Huyện ủy An Lão, trong hai ngày 10 và 11 tháng 8 năm 2005, Đại hội Đảng bộ xã An Quang lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2005 - 2010 đã diễn ra tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã, với sự tham dự của 55 đảng viên. Đại hội đã thảo luận, góp ý kiến vào Dự thảo Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng các cấp và Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ xã khóa VII, trình tại Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2005 - 2010. Đại hội đánh giá tổng kết những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của nhiệm kỳ 2000 - 2005 và đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhiệm kỳ 2005 - 2010.
Về phương hướng chung và nhiệm vụ tổng quát của Đại hội là: Phát huy nội lực khai thác tốt tiềm năng lợi thế của địa phương. Tranh thủ sự đầu tư của Trung ương, tỉnh, huyện và sự giúp đỡ của cộng đồng. Đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, từng bước cơ giới hóa nông thôn, đảm bảo phát triển kinh tế. bền vững, gắn phát triển với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nhằm nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần nhân dân; gắn phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo giữ vững an ninh, quốc phòng; bảo vệ môi trường sinh thái; tăng cường dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới[106].
Đại hội xác định những chỉ tiêu chủ yếu trong nhiệm kỳ 2005 - 2010 mà Đảng bộ phấn đấu thực hiện. Đó là, tổng diện tích gieo trồng cây lúa nước đạt 69 ha/năm, năng suất bình quân đạt 40 tạ/ha, tổng sản lượng đạt 276 tấn; tổng đàn gia súc đạt 1.400 con (đàn trâu: 230 con, đàn bò: 630 con, đàn heo: 540 con); diện tích trồng cây sầu đâu, cây cau đạt 25 ha. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường là 100%, hộ dùng điện đạt 95%, hộ dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 100%, hộ được xem truyền hình đạt 90%; tăng dân số tự nhiên là 1,3%, trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi là 30%. Tỷ lệ dân quân tự vệ/ dân số là 3,2%, tuyển quân đạt 100%, số thôn bản đạt danh hiệu làng văn hóa cấp tỉnh là 01 làng, cấp huyện là 03 làng, số hộ đạt gia đình văn hóa là 90%. Tỷ lệ chi bộ đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh chiếm 70 - 75%, không còn chi bộ yếu kém; Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh.
Để đạt được chỉ tiêu đề ra. Đại hội xác định những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể trên các mặt kinh tế, tài chính, văn hóa, Để đạt được chỉ tiêu đề ra, Đại hội xác định những nhiệm Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2005 . xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị. 2010 (khóa VIID có 11 đồng chí. Đồng chí Đinh Văn Đó được bầu làm Phó Bí thư trực Đảng ủy xã và đồng chí Đinh Văn bầu làm Bí thư Đảng ủy xã, đồng chí Đinh Văn Hùng[107] được Gèo được bầu làm Phó Bí thư Đảng ủy xã, phụ trách công tác chính quyền.
Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ VIII, trong bối cảnh chung có nhiều thuận lợi, nhưng vẫn còn không ít khó khăn. Song dưới ánh sáng nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện An Lão lẫn thứ XVI; được sự giúp đỡ có hiệu quả thông qua các chương trình, dự án của Trung ương và của tỉnh, sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện và các ban ngành có liên quan; Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã An Quang tiếp tục phát huy truyền thống địa phương, nêu cao tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực tự cường, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2005 - 2010.
Trên lĩnh vực kinh tế
Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Huyện ủy An Lão, Đảng ủy và chính quyền xã An Quang cùng các ban ngành đoàn thể của xã thường xuyên chỉ đạo, hướng dẫn nhân dân gieo trồng đúng nông lịch, đảm bảo cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi. Mặc dù thiên tai hạn hán kéo dài, nhưng với tinh thần cần cù lao động, nhân dân các dân tộc xã An Quang luôn tích cực lao động sản xuất, diện tích gieo trồng được mở rộng. Các loại cây trồng chủ yếu vẫn là lúa, ngô, mì,... Năm 2010, tổng. diện tích gieo trồng lúa nước là 64 ha, năng suất bình quân là 46 tạ/ha, tăng 9,5 tạ/ha so với năm 2005; cây ngô diện tích gieo trồng 10 ha, tăng 4 ha so với năm 2005, năng suất bình. quân đạt 32 tạ/ha; cây mì (gồm mì cao sản, mì gòn, mì su) được trồng với tổng diện tích là 100 ha, năng suất bình quân đạt 120 tạ/ha.
Ngành chăn nuôi có những chuyển biến tích cực so với trước đây, số lượng vật nuôi tăng lên, người dân được hướng dẫn nắm bắt kỹ thuật chăn nuôi, cách thức xây dựng chuồng trại, nguồn thức ăn đạt hiệu quả, đồng thời công tác thú y được cải thiện, hoạt động phòng ngừa dịch bệnh ở gia súc gia cầm được tiến hành thường xuyên đạt tỷ lệ cao. Nếu năm 2006, tỷ lệ tiêm phòng gia súc đạt 85% kế hoạch, tỷ lệ tiêm phòng gia cầm đạt 80% kế hoạch thì đến năm 2009 tỷ lệ tiêm phòng gia súc đạt 83,7% kế hoạch, tỷ lệ tiêm phòng gia cầm đạt 99,5% kế hoạch. Nhờ làm tốt công tác tiêm phòng nên nhìn chung tình hình dịch bệnh ở gia súc và gia cầm ổn định và phát triển.
Ngành lâm nghiệp tiếp tục thực hiện chính sách giao khoán rừng cho nhân dân tự quản, nhận được sự đồng tình ủng hộ cao của người dân, góp phần tạo công ăn việc làm cho họ, qua đó làm giảm tình trạng chặt phá rừng. Công tác bảo vệ rừng được chú trọng, thường xuyên tổ chức tuyên truyền và vận động nhân dân cam kết không vi phạm Luật Quản lý, bảo vệ rừng. Đến năm 2010, tổng diện tích rừng giao khoán cho nhân dân toàn xã quản lý, bảo vệ là 1.400 ha; trồng rừng đạt gần 250 ha, tăng hơn 60 ha so với năm 2005, trong đó chủ yếu là trồng keo lai, keo lá tràm, cây sầu đông và một số cây bản địa. Chú trọng công tác giao khoán, khoanh nuôi, bảo vệ và xúc tiến tái sinh rừng, tiếp tục giao khoán, quản lý bảo vệ rừng là 400 ha
Mặc dù Đảng ủy, chính quyền và nhân dân trong xã có nhiều nỗ lực ngăn chặn, nhưng vẫn còn xảy việc khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản. Lực lượng công an xã, huyện đã truy quét, tịch thu tang vật và thanh lý từ năm 2006 đến năm 2010 khoảng 10 triệu đồng. Trên địa bàn xã vẫn còn tình trạng một số hộ dân tự ý phát rừng làm rẫy trái phép được chính quyền địa phương xử phạt hành chính và có những biện pháp giáo dục.
Các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ được khuyến khích đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển. Hoạt động chủ yếu của các cơ sở sản xuất tập trung vào chế biến nông sản và dịch vụ mua bán hàng tiêu dùng. Đến năm 2009, trên địa bàn xã có 5 cơ sở xay xát, 1 cơ sở xẻ gỗ, 13 cơ sở dịch vụ tạp hóa và 3 cơ sở dịch vụ sửa chữa ..
Thực hiện tốt công tác thu chi và cân đối ngân sách, đảm bảo cho các hoạt động của Đảng ủy, chính quyền địa phương; đồng thời làm tốt việc chi trả cho các đối tượng chính sách. Kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng và phát huy hiệu quả tích cực, nhiều tuyến đường liên thôn, liên xã được mở rộng và từng bước được bê tông hóa, thuận lợi cho việc đi lại của người dân.
Trên lĩnh vực xã hội
Ngành văn hóa thông tin xã hoạt động tích cực, phối hợp với các ban ngành đoàn thể thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và triển khai việc chấm điểm gia đình văn hóa và làng văn hóa ở các thôn một cách công băng, khách quan, chính xác. Thường xuyên xây dựng các chương trình văn hóa nghệ thuật để tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đồng thời tổ chức các hoạt động văn nghệ mừng Đảng, mừng Xuân. Tổ chức thành lập các đội bóng đá, bóng chuyên ở các thôn nhằm tạo sân chơi thể thao và vận động nhân dẫn tham gia thực hiện nếp sống văn hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc như tổ chức Lễ hội văn hóa thể dục thể thao năm 2007 và Đại hội thể dục thể thao năm 2009 tạo sự phấn khởi trong quần chúng nhân dân. Những việc làm trên góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội xảy ra trong địa bàn, góp phần đổi mới tư duy nhận thức trong nhân dân.
Giáo dục và đào tạo là một trong những ưu tiên phát triển hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Công tác chăm lo cho sự nghiệp giáo dục luôn được triển khai thực hiện. Đảng bộ và chính quyền xã luôn nhận được sự khuyến khích phát triển giáo dục và sự hỗ trợ về kinh phí xây dựng trường lớp, sách vở,... từ các cấp tỉnh, huyện, đảm bảo cho các em học sinh được vui chơi học hành.
Với đặc thù là xã vùng cao, điều kiện cơ sở vật chất của địa phương còn gặp nhiều khó khăn, dân cư chủ yếu là người đồng bào các dân tộc ít người, đa số là hộ nghèo. Tuy nhiên, Đảng bộ và chính quyền xã luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm, nỗ lực khắc phục khó khăn, hỗ trợ giúp đỡ, tuyên truyền vận động người dân cho trẻ đến trường. Nhờ đó công tác giáo dục trong địa bàn xã có những bước phát triển đáng kể. Đến năm 2010, tổng số giáo viên công tác trên địa bàn xã là 54 thầy cô giáo; trong đó trung học cơ sở là 28, tiểu học là 20 và mẫu giáo là 6 người.
Đảng ủy triển khai thực hiện Nghị quyết 47-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình và Chỉ thị 49-CT/TW của Ban Bí thư về xây dựng. cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho Trạm Y tế xã. gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng Trạm Y tế đẩy mạnh công tác tiêm phòng, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, đảm bảo vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm. Vận động nhân dân chú trọng chăm sóc sức khỏe cho trẻ em và phụ nữ mang thai, vận động chị em trong độ tuổi thực hiện sinh đẻ có kế hoạch; phối hợp với Trung tâm Y tế huyện tổ chức các đợt đặt vòng tránh thai cho chị em, lồng ghép với truyền thông dân số, kế hoạch hóa gia đình. Trên nền tảng đó, các chương trình y tế quốc gia, y tế dự phòng ở xã được thực hiện khá tốt nên trong suốt nhiệm kỳ không xảy ra dịch bệnh trên diện rộng.
Đội ngũ cán bộ y tế hầu hết được đào tạo có có trình độ chuyên môn tốt, được bố trí từ xã đến các thôn, làng trực tiếp chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Kết quả thăm khám và điều trị tại Trạm Y tế xã có nhiều chuyển biến, từng bước xây dựng được uy tín đối với người dân. Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế như tiêm chủng mở rộng, cho trẻ uống vacxin, tẩm hóa chất diệt muỗi ngăn chặn dịch sốt rét, phòng chống suy dinh dưỡng,.. được Đảng ủy chỉ đạo ngành y tế triển khai thực hiện nghiêm túc.
Quá trình thực hiện quy chế dân chủ gắn với việc cải cách hành chính, thực hiện cơ chế một cửa ở cơ sở đảm bảo đúng nguyên tắc, giải quyết kịp thời các chế độ, chính sách đối với các đối tượng và người có công với cách mạng, chế độ cứu tế, cứu trợ đúng quy định, được nhân dân hoan nghênh. Trong nhiệm kỳ 2005 - 2010, xã An Quang thực hiện việc chi trả cho các đối tượng chính sách đảm bảo kịp thời, đúng chế độ, đồng thời thực hiện tốt việc tiếp nhận và cấp phát quà cứu tế đỏ lửa vào dịp tết cổ truyền và quà cứu trợ bão lụt của các cơ quan, đơn vị, nhà hảo tâm cho các gia đình khó khăn. Bên cạnh đó, xã hoàn thành hồ sơ đối tượng 290 gửi về huyện An Lão xét duyệt.
Thực hiện chủ trương của huyện, xã An Quang hoàn thành điều tra, điều chỉnh hộ nghèo; điều tra, khảo sát hộ người có công được hưởng trợ cấp trên toàn xã. Các chính sách về đền ơn đáp nghĩa, công tác bảo trợ, cứu trợ xã hội, nhân đạo, từ thiện được thực hiện kịp thời. Thực hiện chi trả đầy đủ kịp thời chế độ chính sách cho người có công với cách mạng, tiếp nhận và hỗ trợ xây dựng 13 nhà ở cho các đối tượng chính sách với tổng số tiền là 500 triệu đồng; hoàn thành việc xây dựng nhà tưởng niệm ghi tên các anh hùng liệt sĩ tại xã. Chính sách bảo hiểm xã hội được thực hiện kịp thời đúng đối tượng; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 100%.
Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị
Trong những năm 2005 - 2010, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể xã An Quang quan tâm.
Ngay sau Đại hội Đảng bộ xã An Quang lần thứ VIII, Đảng ủy tiến hành họp phân công trách nhiệm phụ trách các mảng công tác cho các đồng chí trong Ban Thường vụ và Ban Chấp hành Đảng bộ xã.
Thấm nhuần quan điểm phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, Đảng ủy xã nghiêm túc tổ chức các hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XVII, Đại hội Đảng bộ huyện An Lão lần thứ XVI, chương trình hành động, kế hoạch của Tỉnh ủy, Huyện ủy cho cán bộ đảng viên và nhân dân về công tác xây dựng Đảng trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng và đảng viên. Nhờ vậy, nhận thức tư tưởng của cán bộ, đảng viên cũng như quần chúng nhân dân được nâng lên một bước. Bên cạnh đó, Đảng ủy còn linh hoạt vận dụng đường lối, quan điểm của Đảng phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.
Song song với phổ biến các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, việc nâng cao cảnh giác trước những âm mưu “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch được Đảng ủy quan tâm. Nhờ đó, chất lượng sinh hoạt về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân từng bước được nâng cao, khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng được củng cố và phát triển, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ngày càng giữ vững, tạo sự nhất trí trong Đảng và sự đồng thuận xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị ở địa phương.
Đảng ủy kịp thời triển khai, chỉ đạo và thực hiện Chỉ thị số 06/CT-TW ngày 07/11/2006 của Bộ Chính trị (khóa X) về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” nghiêm túc, đồng bộ. Trong nhiệm kỳ 2005 - 2010, tỷ lệ đảng viên tham gia học tập đạt từ 95% trở lên, quần chúng tham gia học tập đạt 85%. Sau khi được quán triệt về ý nghĩa của cuộc vận động này, tất cả cán bộ, đảng viên và quần chúng tích cực đăng ký làm theo tấm gương Bác Hồ. Từ thực tiễn của cuộc vận động được triển khai sâu rộng trong cán bộ, đảng viên, và nhân dân góp phần làm chuyển biến cả về nhận thức lẫn hành động. Trong 5 năm, Đảng ủy ban hành 4 chuyên đề và kịp thời triển khai thực hiện ở 8 chi bộ trực thuộc, với hơn 5.00 lượt người tham gia học tập.
Công tác xem xét, kết nạp đảng viên mới đủ phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn vào Đảng nâng cao sức lãnh đạo của Đảng bộ xã. Công tác tạo nguồn kết nạp đảng viên mới được quan tâm, từ năm 2005 đến năm 2010, toàn Đảng bộ đã kết nạp 42 đảng viên, tỉ lệ phát triển đảng viên hàng năm đạt trên 13% so với tổng số đảng viên toàn đảng bộ. Công tác tổ chức cán bộ được chỉ đạo thực hiện đúng quy định. Đội ngũ cán bộ nhiệm kỳ 2005 - 2010 được quy hoạch đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu của công tác cán bộ trước mắt và lâu dài.
Công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ được chú trọng, thường xuyên cử cán bộ đi học tập nâng cao năng lực chuyên môn, góp phần xây dựng lực lượng cán bộ công chức đủ trình độ đáp ứng vai trò lãnh đạo trong tình hình mới. Trong nhiệm kỳ 2005 - 2010, Đảng ủy đã cử cán bộ, công chức và người hoạt động không chuyên trách của xã đi đào tạo, bồi dưỡng bổ túc trung học phổ thông 2 đồng chí, trình độ chuyên môn nghiệp vụ 3 đồng chí (trong đó: trung cấp 2 đồng chí, đại học 1 đồng chí), trung cấp lý luận chính trị 2 đồng chí, tham dự lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh đối tượng 3 cho 1 đồng chí; đồng thời cử cán bộ, đảng viên tham dự đầy đủ các lớp đào tạo, bồi dưỡng tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện An Lão.
Thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) ngày 21/8/2006 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, và quán triệt triển khai có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) ngày 30/7/2007 về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, trong nhiệm kỳ 2005 - 2010 Đảng ủy và Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy thường xuyên xây dựng kế hoạch kiểm tra đảng viên, cấp ủy viên chấp hành Điều lệ Đảng, kiểm tra đảng viên thực hiện cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, kiểm tra nói, viết và làm theo chủ trương đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng được Đảng ủy và các chi bộ đảng được quan tâm. Từ năm 2005 đến năm 2010, Đảng ủy xã An Quang đã kiểm tra, giám sát 7/8 chi bộ, kiểm tra 11/11 đồng chí Đảng ủy viên, kết quả chấp hành tốt 11/11 đồng chí.
Thực hiện Kế hoạch số 09/KH-UBBC ngày 21/3/2007 của Ủy ban bầu cử tỉnh Bình Định về việc hướng dẫn công tác tuyên truyền bầu cử đại biểu Quốc hội (khóa XII), Đảng ủy xã chỉ đạo tiến hành nhiều hình thức hoạt động tuyên truyền đa dạng để giúp cử tri nhận thức đúng ý nghĩa của cuộc bầu cử cũng như trách nhiệm công dân của họ. Tại các điểm sinh hoạt cộng đồng trên địa bàn xã, băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền, cổ động ngày bầu cử được trang trí long trọng. Kết quả, trong ngày bầu cử 20/5/2007, toàn bộ cử tri trên địa bàn xã hãng hái tham gia thực hiện nghĩa vụ công dân của mình, bầu chọn đại biểu Quốc hội khóa XII (2007 - 2012) và bầu bổ sung đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004 - 2009, góp phần vào thắng lợi chung của tỉnh Bình Định trong đợt sinh hoạt chính trị này.
Trong nhiệm kỳ 2005 - 2010, các đại biểu Hội đồng nhân dân xã được bầu đảm bảo đúng theo độ tuổi và cơ cấu. Chất lượng hoạt động của đại biểu được nâng lên, cùng với đó là chức năng giám sát được tăng cường. Công tác tiếp xúc cử liên quan tri trước và sau mỗi kỳ họp được duy trì. Hội đồng nhân dân cùng phối hợp với Ủy ban nhân dân và các cơ quan kịp thời giải quyết các kiến nghị của cử tri. Việc triển khai thực hiện “Quy chế thực hiện dân chủ ở xã” cũng như các chế định: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra được toàn hệ thống chính trị chú trọng thường xuyên.
Dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy, các kỳ họp Hội đồng nhân dân tổ chức đầy đủ, đúng thời gian theo luật định. Bộ máy chính quyền xã từng bước được củng cố và hoàn thiện, năng lực quản lý điều hành của Ủy ban nhân dân được nâng cao, tạo sức mạnh tổng hợp trong việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị đề ra. Trong năm 2006, xã tiến hành hợp đồng với một cán bộ văn phòng Uy ban nhân dân, một cán bộ văn nhất là bắt đầu thực hiện quy chế “một cửa”. Ủy ban nhân dân hóa tư tưởng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, thôn tổ chức thành công bầu cử trưởng thôn và ủy viên thanh xã còn phối hợp với Mặt trận Tổ quốc chỉ đạo, hướng dẫn các thôn tổ chức thành công bầu cử trưởng thôn và bầu ban thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2006 - 2008.
Ủy ban Nhân dân và các ngành liên quan từ xã đến thôn từng bước được củng cố kiện toàn, hiệu lực, quản lý nhà nước có nhiều tiến bộ. Chỉ đạo đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước. Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, phòng chống tham nhũng lãng phí, tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo đạt được kết quả tích cực.
Đảng ủy tiếp tục thực hiện chủ trương tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đối với Mặt trận và các đoàn thể, nêu cao trách nhiệm của chính quyền trong công tác vận động quần chúng; tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh; tiếp tục triển khai và thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận trong hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở. Bên cạnh đó, Đảng ủy còn làm tốt công tác triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/BCT của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với thế hệ trẻ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ mới của địa phương, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, công tác vận động quần chúng có nhiều điểm mới. Nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới, đồng thời thực hiện tốt chức năng xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trên địa bàn xã. Hội Liên hiệp Phụ nữ tích cực thực hiện phong trào thi đua yêu nước và 6 chương trình trọng tâm của Hội, góp phần hoàn thành tốt các chỉ tiêu, mục tiêu về kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng ở các địa phương. Mặt trận Tổ quốc tập trung đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, Ngày “Vì người nghèo”, phối hợp với các đoàn thể thực hiện tốt công tác đánh giá chấm điểm, xếp loại khu dân cư. Đoàn Thanh niên thông qua các ngày lễ lớn của đất nước, thường xuyên tổ chức tuyên truyền bằng nhiều hình thức, như hội thi, hội diễn, diễn đàn, mít tinh, hội trại, cổ động, sinh hoạt cộng đồng, giao lưu văn nghệ,... thu hút đông đảo đoàn viên thanh niên tham gia. Điều này đáp ứng được tinh thần nguyện vọng của thanh niên cũng như quần chúng nhân dân, góp phần hạn chế các tệ nạn xã hội, tạo không khí vui tươi, lành mạnh.
Việc đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng góp phần quan trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, đoàn viên. Mặt trận và các đoàn thể được củng cố từ xã đến thôn, thường xuyên duy trì sinh hoạt; nội dung và phương thức hoạt động bám sát cơ sở, tỷ lệ hội viên tham gia sinh hoạt đạt trên 90%.
Trong giai đoạn 2005 - 2010, cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện phương châm “ổn định để phát triển”, Đảng ủy xã An Quang tập trung chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 36/2005/CT-TTg của Chính phủ về tiếp tục xây dựng cơ sở vững mạnh trong tình hình mới, Kế hoạch 08/KH-BCA của Bộ Công an toàn diện để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh về chương trình quốc gia phòng chống tội phạm giai đoạn 2005 - 2010. Trên cơ sở đó, xã An Quang thực hiện tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cho mọi tầng lớp nhân dân. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân liên hoàn vững chắc, xây dựng cơ sở an toàn, săn sàng chiến đấu trên địa bàn. Chú trọng nhiệm vụ giáo dục quốc phòng cho lực lượng dân quân và lực lượng dự bị động viên; giáo dục kiến thức quốc phòng, an ninh cho đối tượng 4 và đối tượng 5. Xây dựng lực lượng dân quân vững mạnh cả về số lượng và chất lượng.
Công tác tuyển quân, huấn luyện dân quân, tham gia hội thi, hội thao quốc phòng được tổ chức thường xuyên, đảm bảo đúng chỉ tiêu kế hoạch được giao. Tổ chức diễn tập tại xã vận hành cơ chế theo Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị, kết quả đạt khá. Khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng dân quân được nâng lên, xây dựng lực lượng dân quân đạt 3,05% dân số, trong đó tỷ lệ đảng viên đạt 31,58%, tỷ lệ đoàn viên đạt 69,42%. Công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ hàng năm đạt 100% chỉ tiêu trên giao.
Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn xã luôn được giữ vững ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, không để xảy ra tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp, phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” tiếp tục được đẩy mạnh, các nghị quyết của Chính phủ và chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy, nghị quyết liên tịch giữa Mặt trận, các đoàn thể với lực lượng công an được triển khai chặt chẽ, đồng bộ. Công tác quản lý Nhà nước về an ninh trật tự, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ được tăng cường. Hàng năm, xã An Quang đều đạt danh hiệu vững mạnh về quốc phòng, an ninh.
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, bảo đảm công tác quốc phòng - an ninh (2010 - 2015)
Bước sang những năm 2010 - 2015, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo tiếp tục gặt hái được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Nước ta đã thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo tiền để quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Quan trọng hơn, tình hình chính trị ổn định đã tạo nền tảng cần thiết để thực hiện chính sách xã hội, văn hóa, giáo dục, quốc phòng, an ninh với mục tiêu phát huy quyền làm chủ thật sự cho nhân dân, đảm bảo công bằng, bền vững. Thành quả đạt được trên góp phần nâng cao vị thế, uy tín của nước ta trên các diễn đàn hợp tác khu vực và thế giới.
Cùng với những bước tiến lớn trong quá trình phát triển của đất nước, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy Bình Định, Huyện ủy An Lão, qua 5 năm (2005 - 2010) triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ VIII, nhờ sự thống nhất, đoàn kết trong toàn Đảng bộ, sự quyết tâm của cán bộ và nhân dân, xã An Quang từng bước vượt qua khó khăn, hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. Nhằm phát huy những thành quả đạt được, đồng thời khắc phục khó khăn, hạn chế[108], tiếp tục đưa quê hương phát triển tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của địa phương, ngày 30 tháng 3 khăn, hạn chế, tiếp tục đưa quê hương phát triển tương xứng năm 2010, Đại hội Đảng bộ xã An Quang lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010 – 2015 được tổ chức tại Hội trường Uy ban nhân dân xã, với sự tham dự của 71 đại biểu.
Trên cơ sở tổng kết những thành tựu và hạn chế của nhiệm kỳ VIII, Đại hội xác định phương hướng, mục tiêu và những giải pháp cơ bản để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong nhiệm kỳ 2010 - 2015 như sau: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng bộ; thường xuyên chăm lo xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, huy động mọi nguồn lực, khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của xã; tích cực chuyến dịch cơ cấu theo hướng nâng tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng cường liên kết, hợp tác phát triển gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh, giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân”[109].
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ xã An Quang, nhiệm kỳ 2010 - 2015 (khóa IX) gồm 14 đồng chí. Đồng chí Đinh Văn Đơ tiếp tục được bầu làm Bí thư Đảng ủy xã, đồng chí Đinh Văn Nớ được bầu làm Phó Bí thư trực Đảng ủy xã và đồng chí Đinh Văn Gèo tiếp tục được bầu làm Phó Bí thư Đảng ủy xã, phụ trách công tác chính quyền,
Những phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu và giải pháp được thông qua tại Đại hội lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010 - 2015 là định hướng quan trọng để toàn hệ thống chính trị cùng với nhân dân xã An Quang quyết tâm tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng quê hương ngày càng phát triển bền vững, văn minh, dân chủ và hiện đại.
Trên lĩnh vực kinh tế
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, trong những năm 2010 - 2015, chính quyền xã An Quang chủ động xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế ngay từ đầu năm, khai thác mọi tiềm năng lợi thế, sản xuất hết diện tích cây trồng hàng năm, đưa các loại giống mới vào sản xuất. Chỉ đạo Ban Khuyến nông xã chủ động phòng ngừa sâu bệnh, dịch hại, phòng chống hạn hán, bão lụt. Đảng ủy và chính quyền cùng các ban ngành, đoàn thể của xã thường xuyên hướng dẫn nhân dân, chỉ đạo gieo trồng đúng thời vụ, cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi được đảm bảo, diện tích gieo trồng được mở rộng. Từ năm 2010 đến năm 2015, bình quân tổng diện tích gieo sạ hàng năm là 75 ha, năng suất cây lúa tăng từ 47,5 tạ/ha năm 2010 lên 51,8 tạ/ha năm 2014 và năm 2015 dự tính ước đạt khoảng 55 tạ/ha. Đến năm 2015, tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt hơn 800 tấn, tăng 270 tấn so với năm 2010. Bình quân đầu người 531,6 kg/người năm 2010, lên 615,9 kg/người năm 2014, tăng 84,3 kg/người so với năm 2010, dự tính năm 2015 đạt bình quân đầu người 630 kg/người[110].
Về chăn nuôi có những chuyển biến tích cực, số lượng vật nuôi tăng lên, người dân được hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, cách thức xây dựng chuồng trại, đồng thời công tác thú y được cải thiện, hoạt động tiêm phòng ngừa dịch bệnh ở đàn gia súc gia cầm được tiến hành thường xuyên. Tỷ lệ tiêm phòng hàng năm trên địa bàn xã đạt 87%. Năm 2015, tổng đàn gia súc là 1.133 con, tăng 26 con so với năm 2010. Đặc biệt trong năm 2014, trung bình mỗi gia đình thu được gần 18 triệu/năm từ chăn nuôi. Thực hiện có hiệu quả phòng trừ dịch bệnh làm cho đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định.
Thực hiện Nghị định 32a/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, bảo vệ rừng, xã An Quang tiến hành giao khoán cho nhân dân quản lý tổng số 2.651,6 ha rừng. Tiếp tục phát huy lợi thế từ rừng và đất rừng để phát triển kinh tế nhất là trồng cây nguyên liệu làm giấy, cây lấy gỗ và các lâm sản phụ dưới tán rừng. Ủy ban nhân dân xã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân trồng rừng gắn với nâng cao chất lượng giống cây lâm nghiệp và kiểm soát tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp, phá rừng làm nương rẫy trái phép. Kết quả trong nhiệm kỳ 2010 - 2015 trên địa bàn toàn xã đã tiến hành trồng mới và trồng sau khai thác là 445,8 ha; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh cây mây tự nhiên đạt 20 ha. Tỷ lệ độ che phủ rừng ở xã An Quang đạt 61%[111].
Công tác quản lý đất đai và tài nguyên khoáng sản tiếp tục được tăng cường. Triển khai thực hiện dự án VLAP, đến năm 2015, trên địa bàn xã đã xét duyệt hồ sơ và tổ chức cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền sử dụng đất là 1.455 hồ sơ/22A hộ; cấp đất ở cho 24 hộ. Ủy ban nhân dân xã phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện An Lão chuyển giao hồ sơ để tiếp tục triển khai thực hiện, hoàn thành công tác thống kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn toàn xã, quy hoạch sản xuất nông, lâm nghiệp và bố trí lại khu dân cư giai đoạn 2011 - 2020 cho 5/5 thôn[112].
Thực hiện tốt công tác thu chi và cân đối ngân sách, đảm bảo cho các hoạt động của xã và thực hiện chi trả cho các đối tượng chính sách đúng quy định. Giai đoạn 2010 - 2015, tổng thu ngân sách hàng năm của xã An Quang đều tăng và vượt kế hoạch đề ra. Năm 2014 tổng thu ngân sách gần 4,5 tỷ đồng, trong đó thu trên địa bàn xã là 10,5 triệu đồng, năm 2015 đạt hơn 5,5 tỷ đồng, trong đó thu trên địa bàn xã là 80 triệu đồng; bình quân hàng năm thu ngân sách tăng 1,2 lần, đạt 100%. Chi ngân sách đảm bảo đúng luật, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng và phát huy hiệu quả tích cực. Từ năm 2010 đến năm 2015, nhiều công trình dân sinh, giao thông, thủy lợi được đầu tư xây dựng, hoàn thành và đưa vào sử dụng phục vụ tốt hơn trong công tác sản xuất và đời sống nhân dân như bê tông hóa tuyến đường Thôn 5 và Thôn 6 với chiều dài 1,31 km; đầu tư kinh phí xây dựng các điểm trường tiểu học, trường mẫu giáo tại các thôn 2, 3, 4. Hệ thống nước sinh hoạt tiếp tục đầu tư, mở rộng; đến năm 2015, tỷ lệ số hộ dân sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 100%, hộ sử dụng điện lưới quốc gia đạt 100%[113].
Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Bình Định và Huyện ủy An Lão, xã An Quang hoàn thành Đề án quy hoạch xây dựng nông thôn mới; tập trung chỉ đạo tăng cường kiểm tra, đôn đốc các cấp, các ngành đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Tổ chức nhiều hình thức tuyên truyền, đặc biệt là triển khai thực hiện Đề án “Dân vận khéo trong xây dựng nông thôn mới”, góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ đảng viên và nhân dân về xây dựng nông thôn mới. Chỉ đạo hoàn thành đề án quy hoạch và đề án xây dựng nông thôn mới cho 5/5 thôn; tiếp nhận và đầu tư gần 1 tỷ đồng từ nguồn vốn mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (nguồn vốn trái phiếu của Chính phủ); đồng thời huy động sức dân đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân. Sau hơn 3 năm thực hiện, đến năm 2015, xã An Quang đạt 9/19 tiêu chí[114].
Trên lĩnh vực xã hội
Trong những năm 2010 - 2015 hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng. được nâng lên, phục vụ tốt hơn nhiệm vụ chính trị của địa phương và nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân.
Công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và các di tích văn hóa lịch sử được Đảng ủy chú trọng, chỉ đạo tham gia tích cực các ngày lễ, hội và Tết Nguyên đán trong năm như Lễ hội văn hóa và Đại hội thể dục thể thao huyện An Lão lần thứ VII, hưởng ứng nhân dịp Lễ kỷ niệm 50 năm chiến thắng An Lão (7/12/1964 - 7/12/2014), tổ chức thành công Lễ hội văn hóa - thể thao cấp xã lần thứ 6. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được đẩy mạnh, tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 94,77%, khu dân cư văn hóa đạt 80%. Đến năm 2015, tỷ lệ hộ được nghe đài đạt 80%, tỷ lệ hộ xem truyền hình là 98,6%[115].
Công tác chăm lo cho sự nghiệp giáo dục luôn được triển khai thực hiện. Nhờ đó công tác giáo dục trong địa bàn xã có những bước phát triển đáng kể. Giai đoạn 2010 - 2015, đội ngũ cán bộ, giáo viên, cơ sở vật chất phục vụ dạy và học tiếp tục được huyện An Lão quan tâm đầu tư xây dựng theo hướng học tạm bợ. Chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên, từng bước chuẩn hóa và đồng bộ, không còn tình trạng trường tỷ lệ học sinh khá, giỏi các bậc học hàng năm đều tăng, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học và trung học cơ sở năm sau cao hơn năm trước. Đến năm 2015, toàn xã An Quang có 407 học sinh; trong đó theo học tại trường Mẫu giáo là 75, Trường Tiểu học là 132, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Đinh Ruối là 120, Trường Phổ thông dân tộc nội trú An Lão là 22, Trường Trung học phổ thông số 2 An Lão là 25 và Trường Trung học phổ thông dân tộc nội trú Bình Định là 33[116].
Công tác phổ cập giáo dục được chú trọng, duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở đúng độ tuổi và hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Từ năm 2010 đến năm 2015, có 25 học sinh đang theo học thuộc diện cử tuyển tự túc tại các trường cao đẳng, đại học trong và ngoài tỉnh[117].
Ngành Y tế xã có những bước phát triển đáng kể, công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có nhiều tiến bộ. Đội ngũ cán bộ y tế được đào tạo có trình độ chuyên môn tốt. Cán bộ y tế bố trí ở các thôn, làng được học tập kiến thức y tế, sẵn sàng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Hằng năm kết quả thăm khám và điều trị tại Trạm Y tế xã có nhiều chuyển biến. Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế như tiêm chủng mở rộng, cho trẻ uống vacxin, tẩm hóa chất chăn màn để diệt muỗi ngăn chặn dịch sốt rét, phòng chống suy dinh dưỡng..... được triển khai thực hiện nghiêm túc.
Trong những năm 2010 - 2015, xã An Quang không có dịch lớn xảy ra và không có trường hợp tử vong do dịch bệnh. Cuối năm 2014, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân chiếm 35,59%, bình quân hàng năm giảm 2,55%, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi chiếm 59,15%, bình quân hàng năm giảm 7,28%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 12,9%. Việc thực hiện chương trình xây dựng làng văn hóa sức khỏe được chú trọng, đến năm 2015 có 5/5 làng đạt làng văn hóa sức khỏe, trong đó có 1 thôn đạt danh hiệu làng văn hóa sức khỏe 3 năm liên tục[118].
Việc thực hiện các chính sách xã hội được quan tâm chỉ đạo và đạt kết quả tích cực. Trong giai đoạn 2010 - 2015, giải quyết việc làm cho 70 lao động, đạt 70% kế hoạch, trong đó xuất khẩu lao động 6 người, hiện còn 2 lao động đang làm việc, 4 người đã về nước.
Đời sống của nhân dân ổn định và có bước cải thiện. Công tác điều tra, rà soát hộ nghèo hàng năm cũng triển khai và thực hiện đúng quy định. Số hộ nghèo toàn xã năm 2014 là 269 hộ, chiếm tỷ lệ 75,49%. Thực hiện điều tra hộ nghèo cho năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 72,78%, giảm 2,71% so với năm 2014, bình quân hàng năm giảm 3,4%.
Các chính sách về đền ơn đáp nghĩa, công tác bảo trợ cứu trợ xã hội, nhân đạo, từ thiện được triển khai kịp thời. cách mạng, tiếp nhận và hỗ trợ xây dựng 13 nhà ở cho các Thực hiện chi trả đầy đủ chế độ chính sách cho người có công đối tượng chính sách với tổng số tiền là 500 triệu đồng, hoàn thành xây dựng nhà tưởng niệm ghi tên các anh hùng liệt sĩ, Chính sách bảo hiểm xã hội được thực hiện đúng đối tượng; tỷ lệ người dân được xét tham gia bảo hiểm у tế đạt 100%.
Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị
Trong giai đoạn 2010 - 2015, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể xã An Quang quan tâm đúng mức.
Đảng ủy chỉ đạo tiếp tục củng cố xây dựng cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, tổ chức định kỳ các đợt học tập lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Trong những năm 2010 - 2015, Đảng ủy đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống cách mạng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên; tổ chức quán triệt kịp thời các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định của các cấp ủy Đảng gắn với xây dựng kế hoạch thực hiện của Đảng ủy. Chỉ đạo đẩy mạnh phong trào thi đua hướng đến chào mừng kỷ niệm 50 năm Chiến thắng An Lão, tham gia tổ chức cuộc thi tìm hiểu về Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão, giai đoạn 1930 - 2005 và 50 năm sự kiện Chiến thắng An Lão (7/12/1964 - 7/12/2014), chỉ đạo triển khai biên soạn lịch sử truyền thống cách mạng xã (1930 - 2015).
Công tác tạo nguồn kết nạp đảng viên mới được quan tâm, từ năm 2010 đến năm 2015 toàn Đảng bộ kết nạp khoảng 35 đảng viên, tỉ lệ phát triển đảng viên hàng năm đạt trên 10% so với tổng số đảng viên toàn Đảng bộ. Công tác tổ chức cán bộ được chỉ đạo thực hiện đúng quy định. Ban Thường vụ Đảng ủy xã An Quang tổ chức tổng kết việc thực Nghị quyết số 02-NQ/HU của Huyện ủy An Lão về công tác quy hoạch, đào tạo, quản lý, sử dụng cán bộ giai đoạn 2011 - 2015. Đội ngũ cán bộ nhiệm kỳ 2010 - 2015 và nhiệm kỳ 2015 - 2020 được quy hoạch đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu của công tác cán bộ trước mắt và lâu dài.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ luôn được quan tâm, trong nhiệm kỳ 2010 - 2015, Đảng ủy cử nhiều cán bộ, công chức và người hoạt động không chuyên trách đi đào tạo, bồi dưỡng các lớp học khác nhau. Học bổ túc trung học phổ thông 2 đồng chí, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ 3 đồng chí (2 trung cấp, 1 đại học), đào tạo Trung cấp lý luận chính trị 3 đồng chí, tham dự lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh đối tượng 3 cho 1 đồng chí; đồng thời cử cán bộ, đảng viên tham dự đầy đủ các lớp đào tạo bồi dưỡng tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện. Đến cuối năm 2015, số cán bộ cấp xã, có trình độ đại học là 3 đồng chí, chiếm tỷ lệ 7,14%, 18 đồng chí có trình độ trung cấp, chiếm tỷ lệ 43%, trình độ sơ cấp 2 đồng chí, chiếm 4,76%.
Công tác xây dựng Đảng được coi trọng. Đảng ủy xã An Quang ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 06-CTr/HU của Huyện ủy An Lão về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với hoạt động của Ban Tổ chức Trung ương, Đảng ủy xã An Quang ra của hệ thống chính trị. Thực hiện Hướng dẫn số 38-HD/TW quyết định thành lập mới 3 chi bộ (trong đó: 01 chi bộ nhà trường Mẫu giáo, 1 chi bộ thôn và 1 chi bộ trạm y tế). Đến với 124 đảng viên; đặc biệt là 5/5 thôn đều có chi bộ Đảng, năm 2015, toàn Đảng bộ có 11 chi bộ trực thuộc Đảng ủy, lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ xóa bỏ hoàn toàn tình trạng trắng chi bộ ở cấp thôn. Năng đảng viên được nâng lên. Giai đoạn 2010 - 2015, hằng năm có 90% chi bộ đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh, không có chi bộ yếu kém. Tỷ lệ đảng viên hoàn thành nhiệm vụ hàng năm đạt 92%.
Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng được Đảng ủy và các chi bộ đảng quan tâm. Từ năm 2010 đến năm 2015, Ban Thường vụ Đảng ủy xã An Quang đã kiểm tra, giám sát 10/11 chi bộ, kết quả có 10/11 chi bộ chấp hành tốt; tiến hành kiểm tra 14/14 đồng chí Đảng ủy viên, kết quả chấp hành tốt 14/14 đồng chí. Các chi bộ tiến hành kiểm tra, giám sát 24 lượt đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng (kết quả có 100% đảng viên chấp hành tốt). Cấp ủy và Ủy ban kiểm tra Đảng ủy xã đã xem xét xử lý thi hành kỷ luật 12 đảng viên, trong đó khiển trách 5 đồng chí, đề nghị xóa tên trong danh sách đảng viên 7 đồng chí.
Thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng ủy xã chỉ đạo cho các chi bộ đưa vào nội dung sinh hoạt thường xuyên của đảng viên và đăng ký cam kết thực hiện việc làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo chuyên đề hàng năm, xem đây là một trong những tiêu chí xét phân loại tổ chức đảng và đảng viên. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, Đảng ủy tổ chức triển khai quán triệt và thực hiện nghiêm túc, kết quả đã kiểm điểm và nghiêm túc rút kinh nghiệm đối với tập thể Ban Thường vụ và từng cá nhân các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ khắc phục những hạn chế khuyết điểm. Sau kiểm điểm, Đảng ủy chỉ đạo khắc phục kịp thời những hạn chế, góp phần nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm và giữ nghiêm kỷ luật của Đảng, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động trong toàn Đảng bộ và sự đồng thuận của nhân dân trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao.
Song song với công tác xây dựng Đảng là công tác xây dựng chính quyền xã. Bộ máy chính quyền xã, thôn ngày càng đi vào hoạt động ổn định. Trình độ chuyên môn, năng lực của cán bộ, công chức ngày càng được nâng cao. Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ngày càng được phát huy; chất lượng các kỳ họp và hoạt động tiếp xúc cử tri giữa 2 kỳ họp, từng bước được nâng lên. Công tác giám sát, tiếp xúc cử tri của Thường trực Hội đồng nhân dân xã và đại biểu Hội đồng nhân dân xã có chất lượng hơn.
Ủy ban nhân dân và các ngành liên quan từ xã đến thôn từng bước củng cố kiện toàn, hiệu lực quản lý nhà nước có nhiều mặt tiến bộ, chỉ đạo đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước. Tổ chức triển khai việc lấy ý kiến của nhân dân tham gia vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và Luật Đất đai năm 2013 đúng thời gian quy định.
Đảng ủy chỉ đạo đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước. Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, phòng chống tham nhũng lãng phí, công tác tiếp dân, giải quyết Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, phòng Đảng ủy chỉ đạo đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước. 2010 – 2015, các ngành có thẩm quyền thực hiện tốt cải cách khiếu nại tố cáo đạt được kết quả tích cực. Trong nhiệm kỳ thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế “một cửa” đi vào nề nếp, công tác tiếp dân thực hiện đúng định kỳ, kịp thời giải quyết đơn thư khiếu nại của công dân, góp phần xây dựng bộ máy chính quyền cấp xã từng bước đi vào hoạt động hiệu quả thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Việc sắp xếp, tuyển dụng cán bộ, công chức cấp xã được chú trọng. Từ năm 2010 đến năm 2015, xã An Quang có 3 đồng chí được bầu cử, tuyển dụng chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý và công chức. Việc thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức kịp thời, đúng chế độ quy định. Tổ chức trao tặng Huy hiệu Đảng cho 12 đồng chí (trong đó, 30 năm tuổi Đảng có 5 đồng chí, 40 năm tuổi Đảng có 5 đồng chí và 50 năm tuổi Đảng có 2 đồng chí).
Bên cạnh hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, hoạt động của Mặt trận và các hội, đoàn thể được Đảng ủy chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo góp phần thúc đẩy hệ thống chính trị địa phương hoạt động hiệu quả. Hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, các hội đoàn thể được đổi mới. Định kỳ, Thường trực Đảng ủy làm việc với lãnh đạo Mặt trận, hội đoàn thể để nắm bắt tình hình, chỉ đạo đổi mới công tác vận động quần chúng. Hoạt động của Mặt trận và các hội đoàn thể, gắn việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; gắn với việc phân loại đánh giá chất lượng hội đoàn viên, tổ chức đoàn thể cuối năm.
Mặt trận và các đoàn thể được củng cố từ xã đến thôn, thường xuyên duy trì sinh hoạt, nội dung và phương thức hoạt động và bám sát cơ sở, tỷ lệ hội viên tham gia sinh hoạt đạt trên 90%. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, quán triệt, nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, nghị quyết của hội cấp trên, đến mỗi hội viên được quan tâm hàng đầu. Triển khai thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đến với các hội viên, đoàn viên được chú trọng. Tình hình tư tưởng của cán bộ, hội viên, đoàn viên được giữ vững, đại đa số đều gương mẫu chấp hành đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương.
Tổ chức thực hiện có kết quả nhiều cuộc vận động, nhiều phong trào thi đua yêu nước trong hội, đoàn viên và các tầng lớp nhân dân, như phong trào “Xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “Đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” của Đoàn Thanh niên; phong trào “Con heo đất tiết kiệm”, “Hũ gạo tình thương” của Hội Liên hiệp Phụ nữ xã; phong trào “Nông dân sản xuất giỏi” của Hội Nông dân; phong trào “Giúp nhau phát triển kinh tế” của Hội Cựu chiến binh; phong trào “Lao động giỏi, lao động sáng tạo” của Công đoàn cơ sở; phong trào “Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, quy ước hương ước khu dân cư, các thiết chế văn hóa, thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội” của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã. Thông qua đó quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được phát huy. Phong trào và chất lượng hoạt động của Mặt trận và các hội, đoàn thể được nâng lên, hàng năm Mặt trận và các hội, đoàn thể cấp xã có 100% tập thể và cá nhân đạt khá trở lên, không có trung bình, yếu kém.
Về công tác quốc phòng - an ninh
Đảng ủy và chính quyền xã tăng cường lãnh đạo chỉ đạo triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ nhất là Nghị quyết TW8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ thị của Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, Tổ quốc trong tình hình mới” và các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới, phòng chống tội phạm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội an toàn giao thông và công tác đảm bảo an ninh quốc gia...
Công tác tuyển quân, huấn luyện dân quân, tham gia hội thi, hội thao quốc phòng được tổ chức thường xuyên, đảm bảo đúng chỉ tiêu kế hoạch được giao. Tổ chức diễn tập tại xã vận hành cơ chế theo Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI), kết quả đạt khá. Khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng dân quân được nâng lên, xây dựng lực lượng dân quân đạt 3,05% dân số, trong đó tỷ lệ đảng viên đạt 31,58%, tỷ lệ đoàn viên đạt 69,42%. Công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ hàng năm đạt 100% chỉ tiêu trên giao.
Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn luôn giữ vững ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, không để xảy ra tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp, phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” tiếp tục được đẩy mạnh, các Nghị quyết của Chính phủ và chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy, Nghị quyết liên tịch giữa Mặt trận và các hội, đoàn thể với lực lượng công an được triển khai chặt chẽ, đồng bộ. Công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ được tăng cường. Hàng năm, xã An Quang đều xếp loại đạt danh hiệu vững mạnh về quốc phòng - an ninh.
Quá trình tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, tăng cường xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong 20 năm (1995 - 2015), tuy gặp nhiều khó khăn, thách thức, song Đảng bộ và nhân dân xã An Quang đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu vươn lên và đạt được những kết quả tích cực trên các lĩnh vực. Hầu hết các mục tiêu, chỉ tiêu quan trọng đều đạt và vượt so với nghị quyết đề ra.
Nền kinh tế của xã tiếp tục tăng trưởng và phát triển khá; kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng, mạng lưới trường học, điện lưới quốc gia, kênh mương, đường giao thông nông thôn ngày càng khang trang. Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều mặt tiến bộ; đời sống của nhân dân ổn định và có bước cải thiện, an sinh xã hội được đảm bảo, không còn hộ dân thiếu đói. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững ổn định, công tác cán bộ, phát triển đảng viên được quan tâm đúng mức, hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố, kiện toàn và hoạt động có hiệu quả.
Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội xã An Quang vẫn còn những hạn chế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương. Năng suất, chất lượng, hiệu quả của một số loại cây trồng, vật nuôi còn thấp. Công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn yếu kém; chất lượng hoạt động một số mặt trên các lĩnh vực văn hóa - xã hội chưa tốt. Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể chưa hoàn thiện.
Những thành tựu và hạn chế đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về việc quán triệt, đó là: nắm vững các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; bám sát thực tiễn và vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện cụ thể của địa phương, tạo sự đồng thuận trong xã hội cần phải phát huy nội lực, tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo, sự giúp đỡ của cấp trên; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý; kiên quyết trong chỉ đạo điều hành; nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu.
Đồng thời, cần phải chủ động nắm bắt tình hình, giải quyết kịp thời những vấn đề mới phát sinh ở cơ sở, lãnh đạo phát triển kinh tế phải gắn với phát triển văn hóa và giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, gắn với giữ vững quốc quốc phòng, an ninh, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững; phải giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực, đảm bảo tính kế thừa, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài.
KẾT LUẬN
Vùng đất xã An Quang, huyện An Lão có lịch sử hình thành từ lâu đời. Trải qua quá trình lịch sử, cộng đồng các dân tộc nơi đây đã tạo dựng được những giá trị truyền thống văn hóa, lịch sử tốt đẹp. Từ khi có Đảng lãnh đạo, nhân dân các dân tộc ở vùng đất An Quang, huyện An Lão luôn đoàn kết, một lòng, đứng dậy chống lại ách thống trị của phong kiến rồi thực dân phong kiến để giành lại cuộc sống độc lập, tự do.
Trong chặng đường 45 năm (1930 - 1975) có biết bao các thế hệ đồng bào, chiến sĩ trên địa bàn xã An Quang đã kiên trì chịu đựng gian khổ, quyết một lòng chiến đấu, hy sinh để giải phóng quê hương, đất nước. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện ủy An Lão, quân và dân An Quang đã kiên cường bám trụ, chiến đấu với khẩu hiệu “một tấc không đi, một ly không rời”; phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, vượt qua khó khăn thử thách, đưa phong trào cách mạng tiếp tục phát triển, xây dựng và bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, tích cực hoàn thành nghĩa vụ hậu phương cung cấp sức người, sức của, góp phần đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định.
Sau ngày tỉnh Bình Định nói riêng và trên toàn miền Nam nói chung được giải phóng hoàn toàn, đất nước thống nhất, trước những yêu cầu của tình hình mới, tháng 01 năm 1976, các xã An Cư, An Mỹ, An Hậu và An Nghĩa được sáp nhập thành xã An Quang. Dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy Hoài An và sau đó là Huyện ủy An Lão, Chi bộ sau đó là Đảng bộ xã An Quang, quân và dân địa phương ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, từng bước ổn định tình hình chính trị, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh.
Từ năm 1986 đến năm 2015, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân xã An Quang từng bước khắc phục những hạn chế, yếu kém, khai thác tối đa tiềm năng và thế mạnh của địa phương, tạo ra chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Từ một xã nghèo, thường xuyên nhận trợ cấp của Nhà nước, từ một nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên, đời sống nhân dân các dân tộc còn nhiều thiếu thốn, đến nay xã An Quang có sự phát triển bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng có nhiều thay đổi, đời sống mọi mặt của nhân dân ngày càng được nâng cao.
Bên cạnh những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, tốc độ tăng trưởng kinh tế của xã chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế sẵn có ở địa phương. Năng suất, chất lượng, hiệu quả của một số loại cây trồng, vật nuôi còn thấp. Công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn hạn chế. Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể còn một số mặt bất cập.
Nhìn lại chặng đường 85 năm (1930 - 2015), trải qua những thăng trầm của lịch sử, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc xã An Quang luôn nỗ lực vượt qua khó khăn thử thách, đạt được nhiều thành tựu đem lại cuộc sống tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Mặc dù còn những hạn chế, song lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã An Quang đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu.
- Phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, huy động và tranh thủ tối đa mọi nguồn lực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước;
- Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng bộ;
- Quán triệt, nắm vững các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước;
- Bám sát thực tiễn và vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện cụ thể của địa phương; chủ động nắm bắt tình hình, giải quyết kịp thời những vấn đề mới phát sinh ở cơ sở;
- Lãnh đạo phát triển kinh tế phải gắn với phát triển văn - an ninh, hóa và giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái gắn với giữ vững quốc quốc phòng đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững;
- Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ do thực tiễn đặt ra.
Những thành tựu của Đảng bộ và nhân dân xã An Quang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong thời kỳ hòa bình, thống nhất, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và phát triển đã góp phần chung vào sự nghiệp cách mạng của huyện An Lão.
Mặc dù còn những hạn chế, yếu kém cần khắc phục, song những bài học kinh nghiệm để lại là những hành trang quý báu trong chặng đường tiếp theo của Đảng bộ và nhân dân xã An Quang phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh.
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
THÔN
|
ĐƠN VỊ
|
NĂM CÔNG NHẬN
|
1
|
Đinh Ruối
|
Thôn 3
|
Du kích An Mỹ
|
1976
|
Phụ lục 2: DANH SÁCH LIỆT SĨ
Tổng số 37 liệt sĩ ( 35 nam, 2 nữ); trong đó: 2 liệt sĩ thời kháng chiến chống Pháp, 34 liệt sĩ thời kháng chiến chống Mỹ và 1 liệt sĩ sau năm 1975.
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
ĐƠN VỊ
|
NĂM
HY SINH
|
1
|
Đinh Văn Día
|
Bộ đội Quân khu 5
|
27/7/1952
|
2
|
Đinh Văn Dá
|
Huyện đội An Lão
|
27/7/1952
|
3
|
Đinh Văn Cho
|
Xã đội An Quang
|
10/1959
|
4
|
Đinh Văn Xí
|
Xã đội An Quang
|
12/1959
|
5
|
Đinh Ni
|
Huyện đội An Lão
|
27/7/1962
|
6
|
Đinh Văn Trung
|
Huyện đội An Lão
|
10/10/1964
|
7
|
Đinh Văn Nhách
|
Xã đội An Quang
|
04/3/1966
|
8
|
Đinh Văn Ruối
|
Xã đội An Quang
|
5/1966
|
9
|
Đinh Văn Nhiên
|
Xã đội An Quang
|
06/6/1966
|
10
|
Đinh Văn Te
|
Xã đội An Quang
|
6/1966
|
11
|
Đinh Liên
|
Huyện đội An Lão
|
05/10/1966
|
12
|
Đinh Thị Hủa
|
Xã đội An Quang
|
17/10/1966
|
13
|
Đinh Văn Róa
|
Xã đội An Quang
|
01/1967
|
14
|
Đinh Văn Ruối
|
Xã đội An Quang
|
4/1967
|
15
|
Đinh Văn Đốt
|
Xã đội An Quang
|
5/1967
|
16
|
Đinh Văn Chước
|
Xã đội An Quang
|
03/6/1967
|
17
|
Đinh Văn Nhúa
|
Xã An Quang
|
6/1967
|
18
|
Đinh Hoan
|
Huyện đội An Lão
|
27/6/1969
|
19
|
Đinh Văn Khang
|
Xã đội An Quang
|
6/1968
|
20
|
Đinh Văn Cát
|
Xã đội An Quang
|
19/8/1968
|
21
|
Đinh Văn Dó
|
Xã đội An Quang
|
12/9/1968
|
22
|
Đinh Văn Tea
|
Xã đội An Quang
|
12/9/1968
|
23
|
Đinh Văn Phiên
|
Xã đội An Quang
|
17/9/1968
|
24
|
Đinh Văn Nhiêm
|
Xã đội An Quang
|
19/9/1968
|
25
|
Đinh Văn Ruổi
|
Xã đội An Quang
|
10/10/1968
|
26
|
Đinh Văn Chưa
|
Xã đội An Quang
|
25/10/1968
|
27
|
Đinh Văn Rêm
|
Xã đội An Quang
|
18/12/1968
|
28
|
Đinh Thị Lú
|
Xã đội An Quang
|
20/12/1968
|
29
|
Đinh Văn Nhanh
|
Xã đội An Quang
|
17/9/1969
|
30
|
Đinh Thị Ro
|
Xã đội An Quang
|
06/10/1969
|
31
|
Đinh Văn Ngưa
|
Xã đội An Quang
|
15/10/1969
|
32
|
Đinh Văn Truôi
|
Xã đội An Quang
|
17/10/1969
|
33
|
Đinh Văn Chi
|
Xã đội An Quang
|
10/1969
|
34
|
Đinh Văn Riếp
|
Xã đội An Quang
|
3/1970
|
35
|
Đinh Văn Lan
|
Xã đội An Quang
|
6/1971
|
36
|
Đinh Văn Nho
|
Huyện đội An Lão
|
04/3/1972
|
37
|
Đinh Liên
|
E 29 - F 307
|
05/10/1986
|
Phụ lục 3: THƯƠNG, BỆNH BINH VÀ CÓ CÔNG CÁCH MẠNG
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
THÔN
|
LOẠI
|
1
|
Đinh Văn Nháo
|
Thôn 3
|
Thương binh
|
2
|
Đinh Thị Nang
|
Thôn 2
|
Thương binh
|
3
|
Đinh Văn Rô
|
Thôn 2
|
Thương binh
|
4
|
Đinh Văn Chính
|
Thôn 2
|
Thương binh
|
5
|
Đinh Văn Trinh
|
Thôn 4
|
Thương binh
|
6
|
Đinh Văn Nây
|
Thôn 3
|
Thương binh
|
7
|
Đinh Xuân Tiến
|
Thôn 5
|
Thương binh
|
8
|
Đinh Văn Chậu
|
Thôn 3
|
Thương binh
|
9
|
Đinh Văn Trạm
|
Thôn 5
|
Thương binh
|
10
|
Đinh Thị Gênh
|
Thôn 3
|
Thương binh
|
11
|
Đinh Văn Nghiễu
|
Thôn 2
|
Thương binh
|
12
|
Đinh Văn Rút
|
Thôn 3
|
Bệnh binh
|
13
|
Đinh Văn Rĩa
|
Thôn 3
|
Bệnh binh
|
14
|
Đinh Văn Việt
|
Thôn 2
|
Bệnh binh
|
15
|
Đinh Thị Hậu
|
Thôn 3
|
Bệnh binh
|
16
|
Đinh Thị Nhéa
|
Thôn 2
|
Bệnh binh
|
17
|
Đinh Văn Nhó
|
Thôn 2
|
Bệnh binh
|
18
|
Đinh Thị Choi
|
Thôn 5
|
Bệnh binh
|
19
|
Đinh Thị Hai
|
Thôn 3
|
Bệnh binh
|
20
|
Đinh Văn Lam
|
Thôn 4
|
Bệnh binh
|
21
|
Đinh Văn Tron
|
Thôn 2
|
Bệnh binh
|
22
|
Đinh Văn Như
|
Thôn 3
|
Bệnh binh
|
23
|
Đinh Văn Khung
|
Thôn 3
|
Bệnh binh
|
24
|
Đinh Thị Lanh
|
Thôn 4
|
Bệnh binh
|
25
|
Đinh Thị Đến
|
Thôn 4
|
Có công cách mạng
|
26
|
Đinh Văn Bia
|
Thôn 5
|
Có công cách mạng
|
27
|
Đinh Văn Lách
|
Thôn 5
|
Có công cách mạng
|
Phụ lục 4: DANH SÁCH CHỦ TỊCH, BÍ THƯ
4.1. XÃ AN HÒA (AN CƯ + AN MỸ) (1965 - 2/1976)
4.1.1. Chủ tịch:
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
QUÊ QUÁN
|
THỜI GIAN
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Chia
|
Thôn 2, An Cư
|
1960 - 1965
|
Đinh Văn Hòi
|
2
|
Đinh Văn Tự
|
|
1965 - 1966
|
|
3
|
Đinh Văn Ngô
|
|
1966 - 1969
|
|
4
|
Đinh Văn Thơ
|
Thôn 3, An Mỹ
|
1975 - 1976
|
Đinh Văn Rĩa
|
4.1.2. Bí thư Chi bộ:
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
QUÊ QUÁN
|
THỜI GIAN
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Chia
|
Thôn 2, An Cư
|
1965 - 1967
|
Đinh Văn Hòi
|
2
|
Đinh Văn Thơ
|
Thôn 3, An Mỹ
|
1967 - 1976
|
Đinh Văn Rĩa
|
4.2. XÃ AN HẬU (1965 - 2/1976)
4.2.1. Chủ tịch:
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
QUÊ QUÁN
|
THỜI GIAN
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Nhinh
|
Thôn 2, An Hậu
|
1969 - 1972
|
Đinh Xuân Hai
|
2
|
Đinh Văn Bia
|
Thôn 2, An Hậu
|
1972 - 1976
|
Đinh Văn Khói
|
4.2.2. Bí thư Chi bộ
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
QUÊ QUÁN
|
THỜI GIAN
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Nhinh
|
Thôn 2, An Hậu
|
1969 - 1972
|
Đinh Xuân Hai
|
2
|
Đinh Văn Chi
|
Thôn 2, An Hậu
|
1972 - 1976
|
Đinh Văn Biên
|
4.3. XÃ AN QUANG (3/1976 - 2015)
4.3.1. Chủ tịch (1976 - 2015)
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
QUÊ QUÁN
|
THỜI GIAN
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Thơ
|
Thôn 3, An Mỹ
|
1976 - 1978
|
Đinh Văn Rĩa
|
2
|
Đinh Văn Tám
|
Thôn 3, An Mỹ
|
1978 - 1983
|
Đinh Văn Ruông
|
3
|
Đinh Văn Phia
|
Thôn 2, An Mỹ
|
1983 - 1986
|
Đinh Văn Thật
|
4
|
Đinh Văn Rỗi
|
Thôn 3, An Mỹ
|
1986 - 1997
|
|
5
|
Đinh Văn Đơ
|
Thôn 2, An Mỹ
|
1997 - 2005
|
|
6
|
Đinh Văn Gèo
|
Thôn 2, An Mỹ
|
2005 - 2016
|
|
7
|
Đinh Văn Nớ
|
Thôn 3, An Mỹ
|
2016 - 2021
|
|
4.3.2. Bí thư Chi bộ (1976 - 1981)
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
QUÊ QUÁN
|
THỜI GIAN
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Đo
|
Cán bộ huyện
|
3/1976 - 4/1977
|
Đinh Văn Rân
|
2
|
Đinh Văn Thơ
|
Thôn 3, An Mỹ
|
5/1977 - 1981
|
Đinh Văn Rĩa
|
4.3.3. Bí thư Đảng ủy (1981 - 2015)
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
ĐỊA CHỈ
|
THỜI GIAN
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Thơ
|
Thôn 3, An Mỹ
|
1981 - 1982
|
Đinh Văn Rĩa
|
2
|
Đinh Xuân Lực
|
Tổ 2, An Quang
|
1982 - 1983
|
Đinh Văn Châu
|
3
|
Đinh Văn Tám
|
Thôn 4, An Mỹ
|
1983 - 1997
|
Đinh Văn Ruông
|
4
|
Đinh Xuân Quý
|
Thôn 2, An Hậu
|
1997 - 2000
|
Đinh Văn Nhua
|
5
|
Đinh Văn Rỗi
|
Thôn 3, An Mỹ
|
2000 - 2005
|
|
6
|
Đinh Văn Đơ
|
Thôn 2, An Mỹ
|
2005 - 2015
|
|
7
|
Đinh Văn Gèo
|
Thôn 2, An Mỹ
|
2015 - 2020
|
|
Phụ lục 5: CHI ỦY, ĐẢNG ỦY XÃ AN QUANG (1976 - 2015)
Chi ủy Chi bộ nhiệm kỳ 1976 - 1977
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
CHỨC DANH
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Đo
|
Bí thư
|
Tăng cường từ huyện
|
2
|
Đinh Văn Thơ
|
Phó Bí thư
|
Chủ tịch UBND xã
|
3
|
Đinh Văn Chi
|
Chi ủy viên
|
Phó Chủ tịch UBND xã
|
Chi ủy Chi bộ nhiệm kỳ 1977 - 1979
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
CHỨC DANH
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Thơ
|
Bí thư
|
Kiêm Chủ tịch UBND xã
|
2
|
Đinh Văn Tám
|
Phó Bí thư
|
1978: Chủ tịch UBND xã
|
3
|
Đinh Văn Chi
|
Chi ủy viên
|
Phó Chủ tịch UBND xã
|
Chi ủy Chi bộ nhiệm kỳ 1979 - 1982
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
CHỨC DANH
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Thơ
|
Bí thư
|
|
2
|
Đinh Văn Tám
|
Phó Bí thư
|
Chủ tịch UBND xã
|
3
|
Đinh Văn Chi
|
Chi ủy viên
|
Phó Chủ tịch UBND xã
|
Ban chấp hành Đảng bộ lâm thời nhiệm kỳ 1981 - 1982[119]
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
CHỨC DANH
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Thơ
|
Bí thư
|
|
2
|
Đinh Xuân Lực
|
Phó Bí thư trực
|
|
3
|
Đinh Văn Tám
|
Phó Bí thư
|
Chủ tịch UBND xã
|
4
|
Đinh Văn Chi
|
Đảng ủy viên
|
Phó Chủ tịch UBND xã
|
5
|
Đinh Văn Nhân
|
Đảng ủy viên
|
Phó Chủ tịch UBND xã
|
Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 1982 - 1986 (Khóa I)
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
CHỨC DANH
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Xuân Lực
|
Bí thư
|
1983: Nghĩ công tác
|
2
|
Đinh Văn Tám
|
Phó Bí thư trực
|
1983: Bí thư
|
3
|
Đinh Văn Thơ
|
Phó Bí thư trực
|
Từ năm 1983
|
4
|
Đinh Văn Phia
|
Phó Bí thư
|
1983: Chủ tịch UBND xã
|
5
|
Đinh Văn Chi
|
Đảng ủy viên
|
Phó Chủ tịch UBND xã
|
6
|
Đinh Văn Nhân
|
Đảng ủy viên
|
Phó Chủ tịch UBND xã
|
7
|
Đinh Văn Nú
|
Đảng ủy viên
|
Ủy viên thư kí UBND xã
|
Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 1986 - 1988 (Khóa II)
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
CHỨC DANH
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Tám
|
Bí thư
|
1983: Nghĩ công tác
|
2
|
Đinh Văn Thơ
|
Phó Bí thư trực
|
1983: Bí thư
|
3
|
Đinh Văn Phia
|
Phó Bí thư
|
Chủ tịch UBND xã
|
4
|
Đinh Văn Rỗi
|
Đảng ủy viên
|
Phó Chủ tịch UBND xã
|
5
|
Đinh Văn Nú
|
Đảng ủy viên
|
Phó Chủ tịch UBND xã
|
Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 1988 - 1991 (Khóa III)
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
CHỨC DANH
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Tám
|
Bí thư
|
|
2
|
Đinh Văn Phia
|
Phó Bí thư trực
|
|
3
|
Đinh Văn Rỗi
|
Phó Bí thư
|
Chủ tịch UBND xã
|
4
|
Đinh Xuân Quý
|
Đảng ủy viên
|
Phó Chủ tịch UBND xã
|
5
|
Đinh Văn Đơ
|
Đảng ủy viên
|
|
6
|
Đinh Văn Tiến
|
Đảng ủy viên
|
|
7
|
Đinh Văn Quốc
|
Đảng ủy viên
|
|
Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 1991 - 1994 (Khóa IV)
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
CHỨC DANH
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Tám
|
Bí thư
|
|
2
|
Đinh Văn Phia
|
Phó Bí thư trực
|
|
3
|
Đinh Văn Rỗi
|
Phó Bí thư
|
Chủ tịch UBND xã
|
4
|
Đinh Xuân Quý
|
Đảng ủy viên
|
Phó Chủ tịch UBND xã
|
5
|
Đinh Văn Đơ
|
Đảng ủy viên
|
|
6
|
Đinh Văn Tiến
|
Đảng ủy viên
|
|
7
|
Đinh Văn Quốc
|
Đảng ủy viên
|
|
Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 1994 - 1996 (Khóa V)
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
CHỨC DANH
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Tám
|
Bí thư
|
|
2
|
Đinh Xuân Quý
|
Phó Bí thư trực
|
|
3
|
Đinh Văn Rỗi
|
Phó Bí thư
|
Chủ tịch UBND xã
|
4
|
Đinh Văn Phia
|
Đảng ủy viên
|
|
5
|
Đinh Văn Đơ
|
Đảng ủy viên
|
Phó Chủ tịch UBND xã
|
6
|
Đinh Văn Hạnh
|
Đảng ủy viên
|
|
7
|
Đinh Văn Tiến
|
Đảng ủy viên
|
|
Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 1996 - 2000 (Khóa VI)
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
CHỨC DANH
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Xuân Quý
|
Bí thư
|
|
2
|
Đinh Văn Phia
|
Phó Bí thư trực
|
|
3
|
Đinh Văn Rỗi
|
Phó Bí thư
|
Chủ tịch UBND xã
|
4
|
Đinh Văn Đơ
|
Đảng ủy viên
|
Phó Chủ tịch UBND xã
|
5
|
Đinh Văn Nuốc
|
Đảng ủy viên
|
|
6
|
Đinh Xuân Tiến
|
Đảng ủy viên
|
|
7
|
Đinh Văn Viên
|
Đảng ủy viên
|
|
8
|
Đinh Văn Hạnh
|
Đảng ủy viên
|
|
9
|
Đinh Văn Nẻ
|
|
|
Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2000 - 2005 (Khóa VII)
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
CHỨC DANH
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Rỗi
|
Bí thư
|
|
2
|
Đinh Văn Hùng
|
Phó Bí thư trực
|
|
3
|
Đinh Văn Đơ
|
Phó Bí thư
|
Chủ tịch UBND xã
|
4
|
Đinh Văn Nin
|
|
|
5
|
Đinh Văn Rút
|
|
|
6
|
Đinh Văn Lý
|
|
|
7
|
Đinh Văn Gèo
|
|
|
8
|
Đinh Văn Riêu
|
|
|
9
|
Đinh Văn Nẻ
|
|
|
Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2005 - 2010 (Khóa VIII)
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
CHỨC DANH
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Đơ
|
Bí thư
|
|
2
|
Đinh Văn Hùng
|
Phó Bí thư trực
|
|
3
|
Đinh Văn Gèo
|
Phó Bí thư
|
Chủ tịch UBND xã
|
4
|
Đinh Văn Léc
|
|
|
5
|
Đinh Văn Nin
|
|
|
6
|
Đinh Văn Nẻ
|
|
|
7
|
Đinh Văn Phia
|
|
|
8
|
Đinh Văn Rỗi
|
|
|
9
|
Đinh Văn Riêu
|
|
|
Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2010 - 2015 (Khóa IX)
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
CHỨC DANH
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Đơ
|
Bí thư
|
|
2
|
Đinh Văn Nớ
|
Phó Bí thư trực
|
|
3
|
Đinh Văn Gèo
|
Phó Bí thư
|
Chủ tịch UBND xã
|
4
|
Đinh Văn Dát
|
|
|
5
|
Đinh Văn Dưng
|
|
|
6
|
Đinh Thị Ghiếu
|
|
|
7
|
Đinh Văn Dũng
|
|
|
8
|
Đinh Văn Ram
|
|
|
9
|
Đinh Văn Thái
|
|
|
10
|
Huỳnh Phi Long
|
|
|
11
|
Đinh Văn Nin
|
|
|
12
|
Đinh Văn Cư
|
|
|
13
|
Đinh Văn Phúc
|
|
|
Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2015 - 2020 (Khóa X)
TT
|
HỌ VÀ TÊN
|
CHỨC DANH
|
GHI CHÚ
|
1
|
Đinh Văn Gèo
|
Bí thư
|
|
2
|
Đinh Văn Dưng
|
Phó Bí thư trực
|
|
3
|
Đinh Văn Nớ
|
Phó Bí thư
|
Chủ tịch UBND xã
|
4
|
Đinh Thanh Tố
|
|
|
5
|
Đinh Văn Dũng
|
|
|
6
|
Đinh Văn Dát
|
|
|
7
|
Đinh Văn Sơn
|
|
|
8
|
Đinh Thị Ghiếu
|
|
|
9
|
Đinh Văn Quế
|
|
|
10
|
Huỳnh Phi Long
|
|
|
11
|
Đinh Thị Duy
|
|
|
12
|
Đinh Văn Thái
|
|
|
13
|
Đinh Văn Hí
|
|
|
14
|
Đinh Văn Nin
|
|
|
15
|
Đinh Văn Cư
|
|
|
Chịu trách nhiệm xuất bản:
NGUYỄN VĂN THẨM
Huyện ủy viên, Bí thư Đảng ủy
Biên tập:
ĐINH VĂN DỰNG
Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy
Trình bày và sửa bản in
ĐINH THỊ ĐÉT
[1] Để quản lý vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các chúa Nguyễn đặt ra đơn vị hành chính có tên gọi là “nguồn”. Về mặt ngữ nghĩa, “nguồn” thể hiện ở 3 điểm. Trước hết là chợ, nơi nối đường sông xuống đồng bằng và điểm mở đầu của đường mòn lên núi. Thứ hai là địa điểm đánh thuế hàng hóa, có sự hiện diện của quân đội. Cuối cùng là một đơn vị hành chính, tương đương như một tổng ở đồng bằng.
[2] Khi huyện An Lão được thành lập từ năm 1947 đến năm 1954, hai xã An Hòa và An Tân ngày nay là vùng đất của các xã Ân Chính, Ân Khánh và Ân Bửu (trước đó là xã Ấn Hòa) thuộc huyện Hoài Ân.
[3] Theo Nghị định số 550-NĐ của Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, Quản hạt cơ sở phái viên hành chính An Lão lúc này ngoài địa bàn quận An Lão cũ thì chúng cho sáp nhập thêm 3 thôn (ấp) Mỹ Đức, Long Quang, Long Mỹ thuộc xã Ân Tín, huyện Hoài Ân.
[4] Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định (2010), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1975 - 2005), NXB Chính trị Quốc gia, tr. 56, đến ngày 21/02/1976, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra Nghị định Về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam, theo Nghị định này, tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình (Nguyễn Quang Ân, Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới các đơn vị hành chính 1945 - 1977, NXB Văn hóa và Thông tin, tr. 233).
[5] Theo Ban Chấp hành Đảng bộ huyện An Lão (2004), Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1930 - 1975), Sở Văn hóa và Thông tin Bình Định, tr. 12 và Ban Chấp hành Đảng bộ huyện An Lão (2012), Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1975 - 2005), Sở Thông tin và Truyền thông Bình Định, tr. 20 ghi: Tháng 01/1976, huyện An Lão và Hoài Ân sáp nhập thành huyện Hoài An. Tuy nhiên, theo Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hoài Ân (2010), Lịch sử Đảng bộ huyện Hoài Ân (1975 - 2005), Sở Thông tin và Truyền thông Bình Định, tr. 30 thì ghi tháng 11/1975 sáp nhập hai huyện Hoài Ân và An Lão thành huyện Hoài An. Theo chúng tôi thì không có gì mâu thuẫn, vì tháng 11/1975 là công bố Quyết định sáp nhập; còn tháng 01/1976 chính thức sáp nhập.
[6] Theo Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh (2012), Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh (1975 - 2005), Sở Thông tin và Truyền thông Bình Định, tr. 20 ghi là 3 xã; nhưng theo Lịch sử Đảng bộ huyện Hoài Ân (1975 - 2005), Sđd, tr. 30 và Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1975 - 2005) Sđd, tr. 20 thì chỉ có 2 xã Bok Tới (Bok Tơih), Đắk Mang (Đắk Hmang) được sáp nhập vào huyện Hoài An.
[7] Đó là các xã: An Trung (An Thạch, An Liên, An Hiệp, An Dân), An Hưng (An Ninh, An Lạc, An Thành, An Đồng), An Dũng (An Bình, An Bửu), An Vinh (An Phú, An Quý), An Quang (An Cư, An Hậu, An Mỹ, An Nghĩa), An Toàn và An Sơn. Lúc này khu vực An Hòa, An Tân ngày nay có tên là xã Ân Hòa thuộc huyện Hoài Ân.
[8] Theo tài liệu điền dã và tài liệu về đảng tịch lưu tại Đảng ủy xã An đấu trên địa bàn 2 xã An Cư và An Mỹ khoảng từ năm 1965 đến cuối năm Quang liên quan đến các đảng viên lâu năm, có thời gian hoạt động, chiến 1975 đều ghi là Chi bộ xã An Hòa. Như vậy, có thời gian hai xã An Mỹ và An Cư được sáp nhập lấy tên là xã An Hòa, nhưng cụ thể là từ năm nào thì chưa rõ.
[9] Theo Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1930 - 1975), Sđd, tr. 12: Khi tái lập huyện, vùng đất An Sơn thuộc huyện An Lão đổi thành xã Ân Sơn thuộc huyện Hoài Ân, còn vùng đất Ân Hòa của huyện Hoài Ân đổi thành xã An Hòa thuộc huyện An Lão.
[10] Theo Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1930 - 1975), Sđd, tr. 12: Ngoài xã An Nghĩa được tái lập, thì trong Quyết định số 42/UBDTMN-QĐ còn có nội dung thành lập một xã mới ở huyện An Lão, lấy tên là xã An Tân, được hình thành trên cơ sở diện tích và dân số của xã An Hòa và thôn 1 của xã An Quang.
[11] Năm 2007, thị trấn An Lão được thành lập trên cơ sở vùng đất của hai xã An Trung và An Tân. Hiện nay huyện An Lão có tổng cộng 10 thị trấn và xã.
[12] Theo số liệu báo cáo thì năm 2010 dân số 1.224 người, năm 2015 giảm còn 1.136 người và năm 2020 là 1.085 người. Điều này cho thấy, địa phương thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hóa gia đình.
[13] Chẳng hạn như làng Ông Nhom, làng Ông Rấu, làng Bà Trum...
[14] Nhân dân địa phương thường gọi là Gộp đá lớn, phát âm theo tiếng đồng bào H’rê là Hmu ca lênh - có nghĩa là hang đá mài lớn.
[15] Hiện nay mỗi năm Công trình thủy điện Nước Xáng đóng góp cho ngân sách huyện An Lão khoảng 5 tỷ đồng.
[16] Theo tài liệu Tỉnh chí Bình Định của Chu An thì viết Đinh Ruối sinh năm 1939.
[17] Còn lại là nguồn Trà Vân, thủ sở đóng tại An Đỗ và An Hội thuộc xã Hoài Sơn, thị xã Hoài Nhơn ngày nay.
[18] Theo Lê Quý Đôn (2007), Phủ biên tạp lục, NXB Văn hóa và Thông tin, Hà Nội, tr. 269 - 270: Nguồn Hà Nghiêu hàng năm tiền thuế 166 quan 5 tiền, nguồn Ô Kim hàng năm tiền thuế 749 quan 5 tiền, nguồn Cầu Bông hàng năm tiền thuế 1.500 quan, nguồn Đá Bàn hàng năm tiền thuế 1.000 quan, hai nguồn Trà Đinh và Trà Vân hàng năm tiền thuế 2.550
[19] Đó cũng là một trong những lý do mà các nhà nghiên cứu sử học hiện nay cho rằng, sở dĩ nhà Nguyễn cho xây dựng Trường lũy từ Quảng Ngãi đến An Lão là xuất phát từ sự tiếp diễn mâu thuẫn tộc người sau năm 1802, có liên hệ chặt chẽ với nhà Tây Sơn.
[20] Tên gọi của nhà Nguyễn đối với đồng bào H’rê.
[21] Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 813.
[22] Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, tập 3, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 141.
[23] Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, tập 4, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 137.
[24] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 7, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 569.
[25] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 7, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 1136.
[26] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 8, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 8.
[27] Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1930 - 1975), Sđd, tr. 31.
[28] Đồn Lão Thuộc vốn là trụ sở chính của nguồn Trà Vân, nằm trên tuyến Sơn phòng Nghĩa Định, có nhiều lương thực, súng đạn.
[29] Phan Văn Cảnh (2005), Phong trào Cần Vương ở Bình Định, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, tr. 96.
[30] Nguyễn Thế Anh (2008), Phong trào kháng thuế ở miền Trung qua các Châu bản triều Duy Tân, NXB Văn học, Hà Nội, tr. 92 - 93.
[31] Toan Ánh, Cửu Long Giang (1974), Cao nguyên miền thượng, Quyển thượng, NXB Sài Gòn, tr. 117.
[32] Theo Lịch sử Đảng bộ huyện Hoài Ân (1930 - 1975), Sđd, tr. 51: Toàn bộ đảng viên của Chi bộ Vạn Đức đều bị bắt.
[33] Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1930 - 1975), Sđd, tr. 39.
[34] Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định, tập II, Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (8-1945 đến 5/1955) (1992), Sở Văn hóa và Thông tin Bình Định, tr. 16: Trung ương quyết định ngày bầu cử chung cho cả nước là ngày 23/12/1945, nhưng do một số địa phương chuẩn bị chưa kịp nên phải hoãn lại đến ngày 6/01/1946. Bình Định và một số tỉnh khác chuẩn bị xong nên vẫn tổ chức bầu cử vào ngày 23/12/1945.
[35] Đó là các làng ở vùng cao thuộc những nơi hẻo lánh, cách xa với các làng khác.
[36] Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1930 - 1975), Sđd, tr. 53.
[37] Cấp khu là “Nha Quốc dân thiểu số Liên khu V”, cấp tỉnh là “Phòng Quốc dân thiểu số tỉnh Bình Định”, cấp huyện là các “Phân phòng quốc dân thiểu số” như Phân phòng quốc dân thiểu số huyện Vĩnh Thạnh, Phân phòng quốc dân thiểu số huyện Vân Canh, Phân phòng quốc dân thiểu số huyện An Lão.
[38] Đó là 1 chi bộ cơ quan huyện và 5 chi bộ cấp xã (Chi bộ xã An Dân, Chi bộ xã An Ninh, Chi bộ xã An Thành, Chi bộ xã An Thạch, Chi bộ xã An Đồng).
[39] Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1930 - 1975), Sđd, tr. 65 - 66.
[40] Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh (1945 - 1975), Sđd, tr. 53.
[41] Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1930 - 1975), Sđd, tr. 80.
[42] Theo ý kiến của một số nhân chứng tại Hội thảo lần thứ 2 thì trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là từ 1950 đến 1954 ở địa phương chưa có ai là đảng viên, nhưng đã có những người tiên phong đi đầu trong mọi hoạt động phong trào, như Đinh Văn Chia (Đinh Văn Hồi) (Thôn 2, An Cư), Đinh Văn Chí (Đinh Văn Ua) (Thôn 2, An Quang), Đinh Văn Nhú (Đinh Văn Nen) (Thôn 3, An Mỹ), Đinh Văn Dếp (Đinh Văn Nũ) (Thôn 3, An Mỹ), Đinh Văn Lốt (Thôn 4, An Mỹ),...
[43] Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định (1996), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1954 - 1975), Sở Văn hóa và Thông tin Bình Định, tr. 13.
[44] Chính quyền Sài Gòn cho giải thể các xã Ân Bửu, Ân Chính và Ân Khánh thuộc quận Hoài Ân, lập ra xã An Hòa, nhập vào nha An Lão.
[45] Đó là các xã: An Toàn, An Nghĩa, An Hậu, An Cư, An Mỹ, An Phú, An Quý, An Tường, An Bình, An Bửu, An Dân, An Liên, An Hiệp, An Thạch, An Ninh, An Lạc, An Thành, An Đồng và An Hòa.
[46] Loại A (cán bộ chỉ đạo từ cấp xã trở lên, đảng viên cốt cán), loại B (đảng viên thường có người thân đi tập kết) và loại C (những người ít nhiều tham gia, ủng hộ kháng chiến).
[47] Tiêu biểu như dùng dùi sắt nướng đỏ đâm vào da thịt, đổ nước vôi vào miệng rồi leo lên bụng đạp...
[48] Lính bảo an còn gọi là Địa phương quân, lính dân vệ còn gọi là Nghĩa quân.
[49] Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1954 - 1975), Sđd, tr. 27.
[50] Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1930 - 1975), Sđd, tr. 99-100.
[51] Theo ý kiến của các nhân chứng tham gia Hội thảo lần thứ 2 tại xã, những đồng chí tham gia chính quyền cách mạng từ 1960 đến 1965 tại các xã như sau: An Cư: Đinh Văn Chia (Chủ tịch) và Đinh Văn Nhuỗi, Đinh Văn Chiểu, Đinh Văn Mương, Đinh Thị Đói,... ; An Mỹ: Đinh Văn Cát (Chủ tịch) và Đinh Văn Lốt, Đinh Nhôm, Đinh Văn Phiên, Đinh Thị Mắm,... An Hậu: Đinh Văn Kiểu (Chủ tịch), Đinh Văn Nhím, Đinh Văn Sang,…
[52] Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1930 - 1975), Sđd, tr. 103 ghi sự kiện này diễn ra ngày 25/01/1961. Đây là sự nhầm lẫn, vì sự kiện này đã được nghiên cứu và công nhận di tích lịch sử. Và Di tích lịch sử Đá Bàn hiện nay thuộc địa phận xã Hoài Phú, thị xã Hoài Nhơn.
[53] Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1954 - 1975), Sđd, tr. 249.
[54] Đinh Văn Chia (Đinh Văn Hòi) sinh năm 1922 tại thôn 2, xã An Cư (nay là thôn 2, xã An Quang). Tham gia cách mạng năm 1945, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1959, với sự giới thiệu của đồng chí Đinh Xuân Ba - Bí thư Huyện ủy và đồng chí Tâm - Huyện ủy viên. Từ 1945 đến 1948 làm đội viên du kích An Cư; 1949 - 1954: A trưởng bộ đội huyện An Lão; 1954 - 1960: hoạt động bí mật và làm Xã đội trưởng An Cư; 1960 - 1965: Chủ tịch Ủy ban kiêm Trưởng ban Kinh tài xã An Cư; 1965 - 1967: Bí thư Chi bộ xã An Hòa (An Cư và An Mỹ); 1967 - 1969: Trưởng ban Thương binh An Hòa; 1969 - 1976: Chi ủy viên Chi bộ xã An Hòa; 1976 - 1978: Tổ trưởng Tổ Đảng Chi bộ thôn 2, xã An Quang; 1978 - 1988: Trưởng ban Bưu điện An Quang. Năm 1989 nghỉ chế độ.
[55] Trong mỗi ấp địch chia thành nhiều lô, mỗi lô là một liên gia có từ 5 đến 7 gia đình. Xung quanh ấp là cả một hệ thống hàng rào cây và gai hay dây thép gai, hào sâu, bãi chông mìn, bốt gác và cổng, ngày đêm dân vệ và thanh niên chống du kích canh giữ. Ai muốn ra vào ấp phải xin phép, khi cần công việc đi xa làm ăn hoặc thăm hỏi bà con phải được sự đồng ý của liên gia ấp trưởng. Cứ vào mỗi buổi sáng chúng mở cửa ấp để cho bà con đi làm đồng, đến chiều tối khi bà con trở về thì chúng đóng cổng lại. Đây được xem là trại giam trá hình, nhằm đàn áp, chà đạp người dân cả về tinh thần lẫn thể chất.
[56] Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1954 - 1975), Sđd, tr. 117 - 118.
[57] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1965), Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 12, Hà Nội.
[58] Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1930 - 1945), Sđd, tr. 120 - 122.
[59] Đinh Văn Nháo sinh năm 1935, tại thôn 1, xã An Cư (nay là thôn 2, xã An Quang). Tham gia cách mạng tại địa phương từ 1958 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1965. Từ 1958 đến 1960: làm liên lạc viên; 1960 - 1961: du kích An Cư; 1962 - 1963: Thôn trưởng thôn 2 và du kích xã An Cư; 1964 - 1967: Chính trị viên xã đội An Cư; 1967 - 1973: Trợ lí huấn luyện Huyện đội An Lão; 1974 - 1975: Công an huyện An Lão; 1975 - 1985: Phó Trưởng Công an huyện An Lão; 1985 - 1987: Nghỉ theo chế độ; 1987 - 1988: Bí thư Chi bộ IV An Quang. Từ 1989 đến nay nghỉ công tác.
[60] Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Định (1992), Bình Định lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945 - 1975), Sở Văn hóa thông tin Bình Định, tr. 299.
[61] Những cán bộ và các du kích trong thời gian này ở các xã, như An Mỹ: Đinh Văn Chia (Hòi), Đinh Văn Thơ (Rĩa), Đinh Văn Tám (Ruông), Đinh Văn Tý, Đinh Văn Len (Rếu), Đinh Ruối, Đinh Văn Rô, Đinh Văn Chí, Đinh Văn Nhúp, Đinh Văn Nhú, Đinh Văn Dua, Đinh Thị Trum, Đinh Văn Dếp (Nũ), Đinh Văn Lốt, Đinh Văn Den, Đinh Văn Nuôi (Nâu); An Cư: Đinh Văn Côm (Tinh), Đinh Văn Nuôi, Đinh Thị Đới; An Hậu: Đinh Văn Chi (Biên), Đinh Văn Nhia, Đinh Văn Bia (Khói), Đinh Văn Nhinh (Hai), Đinh Văn Nham...
[62] Theo Đinh Bá Lộc, Ký sự thời chiến, tr. 357 - 359: Có du kích tên Phước ở thôn 4 xã An Mỹ (nay là thôn 3 xã An Quang), nhặt được một quả lựu đạn màu nhưng không biết sử dụng. Khoảng tháng 3/1967, khi nghe tiếng máy bay trinh sát của địch quần đảo trên bầu trời, ông lấy quả lựu đạn mù ném vào đống lửa, tiếng nổ phát ra, khói đỏ lan tỏa khắp nơi. Chiếc máy bay trinh sát (L19) phát hiện và hạ độ thấp sát xuống điểm “báo hiệu”. Ông nhanh chóng dùng súng CKC bắn chiếc máy bay này,...
[63] Trong thời gian những năm 1966 - 1967, nhiều cán bộ và chiến sĩ du kích các xã An Cư, An Mỹ và An Hậu đã thoát ly tham gia công tác ở huyện An Lão; đông nhất là gia nhập bộ đội huyện, tỉnh. Tiêu biểu có Đinh Văn Nháo, Đinh Văn Rô, Đinh Văn Phia (Thật)...
[64] Theo các tài liệu khai thác qua điền dã và tài liệu ghi chép trong hồ sơ Đảng tịch của xã An Quang thì khoảng năm 1965 - 1966, hai xã An Cư và An Mỹ được sáp nhập lấy tên là xã An Hòa, tồn tại đến cuối năm 1975 trước khi thành lập xã An Quang. Bởi vì, trong nhiều tờ khai lý lịch của đảng viên được kết nạp trong thời gian này đều ghi là kết nạp tại Chi bộ xã An Hòa; kể cả lý lịch đảng viên của đồng chí Đinh Văn Chia (tức Hỏi) cũng ghi là năm 1965 làm Bí thư Chi bộ xã An Hòa và nhiều lý lịch đảng viên khác cũng ghi người giới thiệu là Đinh Văn Chia - Bí thư Chi bộ xã An Hòa.
[65] Định Văn Thơ (Đinh Văn Rĩa) sinh năm 1937 (Thôn 3, An Mỹ), được kết пар vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1963, tại Chi bộ Văn phòng Huyện ủy An Lão. Từ 1958 đến 1960: Cơ sở bí mật An Mỹ, 1960 - 1961: Chính trị viên xã đội An Mỹ; 1961 - 1962: Học viên Trường Sư phạm tỉnh Bình Định, 1962 - 1964: Cán bộ tăng cường các xã An Quý. Ăn trên, An Lạ: 1964 - 1966: Cán bộ Tuyên huấn huyện An Lão; 1966 - 1967; H viên Trường Văn hóa khu V, Phó ban Tuyên huấn huyện An Lão 1987 - 1976. Bí thư Chi bộ xã An Hòa, 1976 - 1977: Phó Bí thư. Chủ tịch UBND xã An Quang, 1977 - 1982: Bí thư Đảng ủy xã An Quang; 1983. Cán bộ Ban Tuyên huấn Huyện ủy An Lão, 1984 - 1988: Phó Bí thư Thường mà Đảng ủy xã An Quang.
[66] Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1954 - 1975), Sđd, tr. 176.
[67] Đinh Văn Nhinh (Hai) sinh năm 1945 tại thôn 2, xã An Hậu (nay là thôn 6, xã An Quang), được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1966, tại Chi bộ Trường Văn hóa khu V. Từ 1962 đến 1964 là đội viên văn nghệ huyện An Lão; 1964 - 1965: Cán bộ Đoàn xã An Hậu; 1965 - 1967: Học viên Trường Văn hóa khu V; 1967 - 1968: Bí thư Chi đoàn An Hậu; 1968 - 1969: Chủ tịch xã An Hậu; 1968 - 1972: Bí thư Chi bộ kiêm Chủ tịch xã An Hậu; 1972 - 1973: Cán bộ tổ chức và Phó ban sản xuất huyện An Lão; 1973 - 1976: Chánh văn phòng Huyện ủy An Lão; 1976 - 1977: Học viên Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc; 1977 - 1981: Phó ban Kinh tế mới huyện Hoài Ân; 1981 - 1987: Ủy viên Thường vụ Huyện ủy, Phó Chủ tịch UBND huyện An Lão; 1987 về hưu.
[68] Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1930 - 1975), Sđd, tr. 146.
[69] Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1954 - 1975), Sđd, tr. 244.
[70] Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1930 - 1975), Sđd, tr. 157.
[71] Năm phong trào đó là: Phong trào sản xuất và cải thiện đời sống; Phong trào làm ăn tập thể; Phong trào văn hóa xã hội; Phong trào dân quân du kích chiến tranh; Phong trào giao thông vận tải.
[72] Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1930 - 1975), Sđd, tr. 157.
[73] Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1930 - 1975), Sđd, tr. 169 - 170.
[74] Tại xã An Hòa (An Cư và An Mỹ), đồng chí Đinh Văn Rĩa (Đinh Văn Thơ) làm Bí thư Chi bộ, đồng chí Đinh Văn Tám (Ruông) làm Phó Bí thư Chi bộ kiêm Phó Chủ tịch UBND xã, Đinh Văn Rô làm Xã đội trưởng, Đinh Văn Phia làm Chính trị viên xã đội, Đinh Văn Tý làm Trưởng An ninh, Đinh Văn Côm làm Phó An ninh, Đinh Thị Đói làm Hội trưởng Phụ nữ xã, Đinh Thị Trum làm Hội phó Phụ nữ xã, Đinh Văn Chí (La) làm Trưởng Tuyên giáo - Văn hóa thông tin, Đinh Văn Chia làm Chi ủy viên kiêm Trưởng Thôn 5, Đinh Văn Nũa làm Trưởng Thôn 4, Đinh Văn Nhúp làm Trưởng Thôn 3, Đinh Văn Nhú làm Trưởng Thôn 2,...; tại xã An Hậu, đồng chí Đinh Văn Chi (Biên) làm Bí thư Chi bộ kiêm Phó Chủ tịch UBND xã, đồng chí Đinh Văn Bia (Khói) làm Phó Bí thư Chi bộ kiêm Thư kí UBND xã, Đinh Văn Viên làm Xã đội trưởng; tại xã An Nghĩa: đồng chí Đinh Văn Thô làm Bí thư Chi bộ, đồng chí Đinh Văn Nê làm Chủ tịch UBND xã, Đinh Văn Nham phụ trách công tác giáo dục,...
[75] Ban Chấp hành Đảng bộ huyện An Lão (2012), Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1975 - 2005), Sở Thông tin và Truyền thông Bình Định, tr. 6.
[76] Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, công tác xây dựng hệ thống chính trị được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Ngày 20/9/1975, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh.
[77] Như vậy, huyện Hoài An lúc mới thành lập có tổng cộng 18 xã,105 làng; riêng huyện An Lão cũ có 6 xã.
[78] Lúc này đồng chí Đinh Văn Đo (Đinh Văn Rân) được trở lại huyện công tác ở Ban Kinh tài.
[79] Đồng chí Đinh Văn Châu (Đinh Văn Lực), bí danh: Chí Cường; sinh năm 1927 tại tổ 4, An Dũng, trú quán tổ 2, An Quang; được kết Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1963 tại Chi bộ học viên Trường Lý luận nap vào Chính trị Hà Nội. Từ 1953 đến 1954: Tổ trưởng dân quân tự vệ An Dũng; 1954 - 1959: Học viên Trường Bổ túc văn hóa dân tộc Trung ương; 1959 - 1963: Học viên Trường Lý luận chính trị Hà Nội; 1964 - 1966: Cán bộ Ban Tuyên huấn miền Tây Bình Định; 1966 - 1967: Cán bộ Huyện đội An Lão; 1968: Học viên Trường Quân chính Quân khu V; 1969 - 1973: Huyện ủy viên, Phó Chỉ huy Huyện đội; 1973 - 1974: Học viên Trường Quân Chính Quân khu V; 1974 - 1976: Huyện đội phó An Lão; 1976 - 1979: Phó Chủ tịch UBND huyện Hoài An; 1979 nghỉ công tác theo chế độ; 1982 – 1983 làm Bí thư Đảng ủy xã An Quang.
[80] Đồng chí Đinh Văn Chi (Đinh Văn Biên), sinh năm 1942 tại thôn 2, An Hậu (thôn 6, An Quang); được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1968 tại Chi bộ xã An Hậu. Từ 1961 đến 1964: Du kích xã và B trưởng du kích xã; 1964 - 1965: Cán bộ an ninh thôn 2, An Hậu; 1985 - 1986: Xã đội trưởng An Hậu; 1968 - 1972: Trưởng Ban An ninh An Hậu; 1972 - 1976: Bí thư Chi bộ xã An Hậu; 1976 - 1979: Phó Chủ tịch UBND xã An Quang; 1979: Tổ trưởng tổ 2 Hợp tác xã An Quang; 1980 - 1983: Trưởng ban Tổ chức Đảng ủy An Quang; 1983 - 1986: Phó Chủ tịch kiêm Trưởng Công an xã An Quang; 1986 - 1988: Thanh tra xã An Quang; 1989 nghỉ hưu.
[81] Khi tái lập huyện, vùng đất An Sơn trước đây thuộc huyện An Lão được chuyển giao về huyện Hoài Ân (hiện nay là xã Ân Sơn, huyện Hoài Ân), còn vùng đất từ Xuân Phong lên đến xã An Trung, trước đây thuộc xã Ân Đức được chuyển giao về huyện An Lão hình thành xã mới lấy tên là An Hòa.
[82] Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1975 - 2005), Sđd, tr. 27.
[83] Hợp tác xã/tập đoàn sản xuất tiến hành khoán đất cho các hộ xã viên; đồng thời sử dụng lao động tập thể tiến hành một số khâu như làm đất, thủy nông, giống mạ, quản lý và phân phối phân bón, phòng trừ sâu bệnh; các khâu còn lại như gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch do hộ xã viên tự làm. Hợp tác xã giao khoán sản lượng cho hộ xã viên và hộ xã viên có nghĩa vụ nộp sản lượng trong khoán và được quyền hưởng toàn bộ sản lượng vượt khoán.
[84] Ban định canh định cư xã An Quang (1982), Tờ trình xin khai hoang kiến thiết đồng ruộng, 20/4/1982, tr. 1.
[85] Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1975 - 2005), Sđd, tr. 61.
[86] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 459.
[87] Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1975 - 2005), Sđd, tr. 128.
[88] Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1975 - 2005), Sđd, tr. 79-80.
[89] Ủy ban nhân dân xã An Quang (1993), Dự án định canh định cư xã An Quang, huyện An Lão năm 1993, tr. 3.
[90] Ủy ban nhân dân xã An Quang (1993), Dự án định canh, định cư xã An Quang, huyện An Lão năm 1993, tr. 4.
[91] Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định (1995), Quyết định phê duyệt dự án định canh, định cư xã An Quang huyện An Lão năm 1995, tr. 1-2.
[92] Đảng bộ xã An Quang (1994), Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ xã An Quang năm 1994, tr. 5.
[93] Xã An Quang mới là địa bàn của 3 xã cũ trước đây: An Cư, An Mỹ và An Hậu gồm có 5 thôn (từ Thôn 2 đến Thôn 6, riêng Thôn 1 được cắt chuyển về xã An Tân).
[94] Quyết định số 15/QĐ-HĐBT ngày 19/02/1986 của Hội đồng Bộ trưởng về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số xã, thị trấn của các huyện của tỉnh Nghĩa Bình.
[95] Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định (1995), Thống kê về tình hình Đảng và chính quyền cấp xã năm 1995, tr. 1.
[96] Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ xã An Quang năm 1994, tr. 5-6.
[97] Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 80.
[98] Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1975 - 2005), Sđd, tr. 231.
[99] Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1975 - 2005), Sđd, tr. 130.
[100] Ban Chấp hành Đảng bộ xã An Quang (1995), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ xã An Quang khóa V, trình tại Đại hội Đảng bộ lần thứ VI, nhiệm kỳ (1996 - 2000), Tài liệu lưu tại Văn phòng Đảng ủy xã.
[101] Ban Chấp hành Đảng bộ xã An Quang (2000), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ xã An Quang khóa VI, trình tại Đại hội Đảng bộ lần thứ VII, nhiệm kỳ (2000 - 2005), Tài liệu lưu tại Văn phòng Đảng ủy xã.
[102] Ủy ban nhân dân xã An Quang (1998), Báo cáo sơ kết 3 năm (1996-1998), tr. 3.
[103] Đảng ủy xã An Quang (2005), Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng bộ xã An Quang khóa VII, nhiệm kỳ 2000 - 2005 trình tại Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2005 - 2010, tr. 4, Tài liệu lưu tại Văn phòng Đảng ủy xã.
[104] Đảng ủy xã An Quang (2005), Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng bộ xã An Quang khóa VII, nhiệm kỳ 2000 - 2005 trình tại Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2005 - 2010, tr. 4, Tài liệu lưu tại Văn phòng Đảng ủy xã.
[105] Đảng ủy xã An Quang (2005), Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng bộ xã An Quang khóa VII, nhiệm kỳ 2000 - 2005 trình tại Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2005 - 2010, tr. 4, Tài liệu lưu tại Văn phòng Đảng ủy xã.
[106] Đảng ủy xã An Quang (2005), Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng bộ xã An Quang khóa VII, nhiệm kỳ 2000 - 2005 trình tại Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2005 - 2010, tr. 6, Tài liệu lưu tại Văn phòng Đảng ủy xã.
[107] Năm 2009, đồng chí Đinh Văn Hùng chết, đồng chí Đinh Văn Nớ được Ban Chấp hành Đảng bộ bầu làm Phó Bí thư thường trực Đảng ủy xã.
[108] Kinh tế của xã phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của xã. Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động xã hội chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa còn chậm. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu. Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc. Đời sống một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn. Trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể một số mặt còn hạn chế.
[109] Đảng bộ xã An Quang (2010), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ xã khóa VIII, nhiệm kỳ 2005 - 2010 trình tại Đại hội Đảng bộ xã lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010 - 2015, Tài liệu lưu tại Văn phòng Đảng ủy xã.
[110] Đảng bộ xã An Quang (2010), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ xã khóa IX, nhiệm kỳ 2010 - 2015 trình tại Đại hội Đảng bộ xã lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020, Tài liệu lưu tại Văn phòng Đảng ủy xã.
[111] Đảng bộ xã An Quang (2010), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ xã khóa IX, nhiệm kỳ 2010 - 2015 trình tại Đại hội Đảng bộ xã lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020, tr. 1, Tài liệu lưu tại Văn phòng Đảng ủy xã.
[112] Đảng bộ xã An Quang (2010), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ xã khóa IX, nhiệm kỳ 2010 - 2015 trình tại Đại hội Đảng bộ xã lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020, tr. 2, Tài liệu lưu tại Văn phòng Đảng ủy xã.
[113] Đảng bộ xã An Quang (2010), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ xã khóa IX, nhiệm kỳ 2010 - 2015 trình tại Đại hội Đảng bộ xã lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020, tr. 2, Tài liệu lưu tại Văn phòng Đảng ủy xã.
[114] Đảng bộ xã An Quang (2010), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ xã khóa IX, nhiệm kỳ 2010 - 2015 trình tại Đại hội Đảng bộ xã lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020, tr. 2, Tài liệu lưu tại Văn phòng Đảng ủy xã.
[115] Đảng bộ xã An Quang (2010), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ xã khóa IX, nhiệm kỳ 2010 - 2015 trình tại Đại hội Đảng bộ xã lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020, tr. 3, Tài liệu lưu tại Văn phòng Đảng ủy xã.
[116] Đảng bộ xã An Quang (2010), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ xã khóa IX, nhiệm kỳ 2010 - 2015 trình tại Đại hội Đảng bộ xã lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020, tr. 3, Tài liệu lưu tại Văn phòng Đảng ủy xã.
[117] Đảng bộ xã An Quang (2010), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ xã khóa IX, nhiệm kỳ 2010 - 2015 trình tại Đại hội Đảng bộ xã lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020, tr. 3, Tài liệu lưu tại Văn phòng Đảng ủy xã.
[118] Đảng bộ xã An Quang (2010), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ xã khóa IX, nhiệm kỳ 2010 - 2015 trình tại Đại hội Đảng bộ xã lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020, tr. 4, Tài liệu lưu tại Văn phòng Đảng ủy xã.
[119] Năm 1981, sau khi tái lập huyện, Chi bộ xã An Quang được Huyện ủy An Lão công nhận là Đảng bộ.